Trang chủ Thơ ca chọn lọc Truyện thơ Nôm “Nhị độ mai” (Văn học dân gian Việt Nam)

Truyện thơ Nôm “Nhị độ mai” (Văn học dân gian Việt Nam)

Truyện thơ Nôm “Nhị độ mai” gồm 2816 câu lục bát, nội dung dựa theo câu chuyện “Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai truyện” của Trung Quốc.

Giới thiệu về truyện “Nhị độ mai”

Đây là một trong những truyện thơ khuyết danh rất phổ biến trong dân gian trước kia. Truyện được viết vào khoảng thế kỷ 19, chủ ý khuyên người ta biết giữ trọn những điều trung nghĩa, dù lúc đầu có chịu nhiều khổ sở nhưng về sau thế nào cũng được vẻ vang, sung sướng. Trái lại những kẻ bạc ác thì lúc đầu tuy đắc chí nhưng rút cục vẫn bị tội vạ.

Chính bởi tính chất luân lý như vậy nên “Nhị đô Mai” được đại đa số người dân lao động hết sức yêu thích và truyền tụng.

Tóm tắt nội dung truyện “Nhị độ mai”

Truyện kể lại cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng chính nghĩa (tiêu biểu là Mai Bá Cao và bạn là Trần Đông Sơ) với phi nghĩa (tiêu biểu là Lư Kỷ và con nuôi là Hoàng Tung) trong xã hội phong kiến. Tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội phong kiến trên bước đường suy vong của nó: trong triều vua không lo việc nước để gian thần lộng hành giết hại những trung thần, nên ngoài thì giặc giã luôn đe dọa, đời sống người dân cơ cực, bị ức hiếp và chà đạp.

Mai Công vốn là tri huyện Lịch thành, nhờ tính tình thanh liêm, trung trực, được triệu về kinh làm chức giám quan (1). Nhân dịp đó, ông định trừ khử bọn gian quan là Lư Kỷ và Hoàng Tung, như ông đã chống không nộp tiền vào cửa hay đã vạch mặt chúng trong lễ mừng thọ Lư Kỷ. Nhưng Lư Kỷ lại rất thâm độc, đã ton hót với nhà vua, vu cho Mai Công tư thông với giặc, nên Mai Công bị xử tội chém và Trần Công bị cách chức. Gia đình Mai Công bị truy nã, con trai là Mai Lương Ngọc trốn thoát, đổi tên là Hỉ Đồng (2), may mắn lại lạc vào nhà Trần Đông Sơ.

Nhân ngày giỗ Mai Bá Cao, Trần Công sửa lễ cúng bạn ở ngoài vườn mai, khấn thầm: Nếu như dòng họ Mai chưa dứt thì xin cho hoa mai nở nhiều hơn xưa. Không may, đêm đó gió mưa, hoa mai rụng hết. Trần Công thất vọng, toan bỏ nhà đi tu, thì con gái ông là Hạnh Nguyên đã cầu khấn cho mai nở lại, tươi đẹp hơn nữa (3). Hôm đó Lương Ngọc làm thơ khóc cha vô tình bị lộ. Trần Công mừng quá, gả Hạnh Nguyên cho Lương Ngọc.

Chưa được bao lâu, có giặc ngoại xâm đến xâm phạm, Lư Kỷ bèn tâu vua bắt Hạnh Nguyên đi cống giặc để cầu hòa. Giữ tiết nghĩa với chồng, Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử. Gia đình Trần Công bị truy nã. Trần Công bị bắt giam, Mai Sinh và em vợ là Xuân Sinh chạy trốn, hai người lạc nhau. Về sau, Hạnh Nguyên được cứu sống, may mắn gặp lại chồng và em. Mai Sinh lúc này đổi tên là Mục Vinh đã đỗ Trạng nguyên (4). Xuân Sinh cũng đổi tên thành Khâu Khôi và đỗ Bảng nhãn.

Lư Kỷ ép Khâu Khôi lấy con gái hắn, không được, toan bỏ tù Khâu Khôi, liền bị cống sinh phẫn uất và đón đánh. Nhờ xảy ra sự việc trên, nhà vua biết rõ tội lộng quyền của Lư Kỷ và Hoàng Tung, đã hạ lệnh chém đầu hai tên gian thần này. Trần Công được tha và thăng chức. Cả gia đình lại vui vẻ, đoàn viên như cũ (5).

Chú thích

  1. Giám quan: chức quan có nhiệm vụ xem sét mọi sự trong triều để giúp vua làm việc phải, chống việc trái.
  2. Hỉ Đồng: chính là người hầu của Mai Sinh, nhưng đã chịu hi sinh cho Mai Sinh và nhân đó Mai Sinh đội tên của Hỉ Đồng
  3. Hoa mai đã rụng hết, lại nở lại, nên mới gọi là mai nở hai lần (chữ Hán là “Nhị độ mai”). Nhan đề câu chuyện từ ý này mà ra.
  4. Ngày xưa đi thi phải qua ba chặng: thi Hương, lấy tú tài và Cử nhân (đỗ điểm thấp là Tú tài, đỗ điểm cao là Cử nhân. Cử nhân được lên kiunh đô thi Hội, những người đỗ thi Hội được vào cung vua thi Đình để sắp hạng cao thấp, người đỗ đầu gọi là Trạng nguyên, người đỗ thứ hai gọi là Bảng nhãn, người đỗ thứ ba gọi là Thám hoa. Những người đỗ kế tiếp thì người ta gọi chung là Tiến sĩ.
  5. Câu chuyện khá phức tạp, có nhiều chi tiết. Ở đây chỉ tóm tắt lại những nét chính. Cần đọc toàn bộ câu chuyện dưới đây có thể hiểu rõ hơn.

Đọc truyện thơ Nôm “Nhị độ mai”

Dựa theo nội dung, có thể chia câu chuyện “Nhị độ mai” thành 6 phần. Trọng tâm mỗi phần

Phần mở đầu

Đạo trời báo ứng không sai, người ngay thẳng dù có bị gian truân nhưng kết cục vẫn được hưởng phúc. Kẻ gian tà dù có đắc chí cũng chỉ được nhất thời, sau sẽ bị khổ sở.

Hoá nhi thăm thẳm nghìn trùng,
Nhắc cân phúc tội, rút vòng vần xây.
Ngàn xưa mấy kẻ gian ngay,
Xem cơ báo ứng biết tay trời già.
Tuần hoàn lẽ ấy chẳng xa,
Chớ đem nông nỗi mà ngờ cao xanh.
Trời nào phụ kẻ trung trinh,
Dù vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.
Danh thơm muôn kiếp còn ghi,
10. Để gương trong sách, tạc bia dưới đời.
Gian tà đắc chí mấy hơi,
Mắt thần khôn giấu lưới trời khôn dung.
Uy quyền một chút như không,
Xem bằng lửa đá ví cùng đám mây.
Thanh nhàn khi tựa hiên tây,
Vui lòng đèn sách, nghỉ tay văn bài.

Phần 2: Trung thần bị hãm hại

Mai Bá Cao, một vị trung thần đời vua Đường Đức Tông bị gian thần là Lư Kỷ và Hoàng Trung hãm hại.

Truyện ngoài xem “Nhị độ mai”,
Nhà Đường truyền vị đến đời Đức Tông.
Thường Châu có kẻ thanh trung,
20. Bá Cao là chữ, vốn dòng họ Mai.
Nền trung trực dạ trang đài.
Trời cho văn tử đáng tài trạng nguyên.
Đặt tên Lương Ngọc dõi truyền,
Thông minh rất mực, phượng tiên trong đời.
Nhân duyên số sẵn tự trời,
Hôn nhân đã định vào nơi họ Hầu.
Chỉ vì ngoại lỵ bấy lâu,
Chưa trao lễ nhạn mới đầu thiếp canh.
Mai công tri huyện Lịch thành,
30. Gương trung sáng vặc, túi thanh nhẹ bồng.
Cầm đường ngày tháng thung dung,
Tên ngay là tiết, nước trong ấy lòng.
Bấy lâu Lư Kỷ tướng công,
Tuy quyền tước lớn, mà phong độ hèn.
Túi tham của đút chật lèn,
Dung bên gian đảng, ghét bên hiền tài.
Mai công mấy độ quan ngoài,
Bạn bè nhờ có mấy người đồng niên.
Trong triều hết sức giữ gìn,
40. Kẻ ngôi Thiêm sự, người quyền Thượng thư.
Kìa Đảng Tiến, nọ Đông Sơ,
Kẻ toà Đô sát, người toà Hàn lâm.
Chu toàn đã ngoại mười năm,
Bè trung chống vững, lòng căm chớ hòng.
Một ngày huyện vụ vừa xong,
Vào trong ông mới ngỏ cùng phu nhân.
Rằng: “Ta vốn kẻ trung thần,
“Trên vì nước, dưới vì dân mới là!
“Ví dù theo thói người ta,
50. “Uốn lưng co gối cũng nhơ một đời.
“Lọ là cầu cạnh chi ai,
“Chẳng trong lăng miếu, cũng ngoài điền viên.
“Con ta trạc tuổi thanh niên,
“Có gương khoa giáp, có nền đỉnh chung.
“Sao cho giữ được chữ trung,
“Mới là hiếu tử nối dòng thư hương.”

Những là vui chuyện nội đường,
Sảnh ngoài bỗng có hai chàng báo tin:
Mai công phụng chỉ thăng thuyên.
60. Chiếu trời mây vỗ, ân trên mưa nhuần.
Triều ban dự bậc quan thân,
Lại khoa cấp sự giữ phần gián quan.
Tin đâu khêu tấm trung can.
Một hai quyết phải trừ gian phen này.
Truyền làm tiệc rượu vui vầy,
Dặn dò gia sự đinh ngày khởi thân.
Tàng tàng chén cúc vài tuần,
Đòi công tử với phu nhân dạy lời:
Rằng: “Bấy lâu những ở ngoài,
70. “Dạ này tấm tức với người quyền gian.
“Rày vâng Đài gián thăng quan,
“Phen này ta quyết cả gan phen này.
“Bấy giờ một giở, một hay,
“Họp nhau nào biết có ngày nữa thôi?
“Cũng đừng bịn rịn lôi thôi,
“Mẹ con sớm liệu về nơi quê nhà.
“Điền viên vui thú nông gia,
“Tiện con đèn sách ấy là lẽ nên!
“Ví dù giải kết có tin,
80. “Bảo nhau sớm liệu tìm miền ẩn thân.
“Chờ cho thiên địa xoay vần,
“Sẽ toan tính với thù nhân sau này.
“May mà vua chứng lòng ngay,
“Đàn hồ, lũ thỏ, một ngày quét thanh.
“Bấy giờ phu quý, phụ vinh,
“Đưa tin sẽ đón thăng kinh cũng vừa.”
Tân bằng mừng rỡ chật nhà,
Tiếp thù ông bận những là hàn ôn.
Phu nhân nửa lệ nửa buồn,
90. Đòi công tử đến, mẹ con bàng hoàn.
Rằng: “Nghe bố con bàn,
“Phen này quyết với quyền gian đối đầu.
“Sẻ đàn, phượng một, chắc đâu,
“Cái lo này để về sau tày trời.”
Nghe rồi công tử thưa lời:
“Thế rằng cái đạo làm tôi mới là.
“Nhà huyên xin chớ lo xa,
“Hễ trời có mắt thì ta lệ gì?
“Hãy cho vẹn tấm trung nghì,
100. “Vinh, khô, đắc, táng, sá chi cuộc đời.”
Ông vừa xong việc khách ngoài,
Bưóc vào trong, bông nghe lời con thưa.
Vuốt râu cười nói lui ra,
Khen rằng: “Ấy thực đại gia con nòi!
“Trẻ thơ biết đạo làm tôi,
“Gương trung hiếu, lấy một lời mà suy.
“Mới hay hổ phụ, lân nhi,
“Khéo thay tính trẻ cũng y tính già.

Nói rồi truyền gọi lại nha,
110. Đương đường nhủ hết nỗi xa nỗi gần:
“Làm người biết đạo tu thân,
“Việc quan phải giữ lấy nhân làm đầu.
“Tiếng thanh bạch để về sau,
“Dẫu rằng uống nước, ăn rau chớ nài.
“Việc văn án phải quan hoài,
“Một câu nặng nhẹ, mấy người oan khiên.
“Khuyên đừng đổi trắng thay đen,
“Ngược dân dưới, dối quan trên, khó lòng.
“Giữ gìn đôi chữ hiếu trung.
120. “Sao cho không hổ với trong cao dày.
“Ta đây vả tiếng quan thầy,
“Giã nhau một chút niềm tây gọi là.
“Rồi đây một bước một xa,
“Nghe ta hay chẳng nghe ta, mặc dầu!”
Dạy rồi ai nấy gật đầu,
Rằng: “Vâng khuyên nhủ từ sau ghi lòng.”

Trù phòng dọn dẹp vừa xong,
Một công tử với hai ông bà ngồi.
Dặt dìu sẽ rót chén mồi,
130. Nghìn câu trân trọng trăm lời biệt ly.
Người trằn trọc nỗi về quê,
Kẻ năn nỉ nỗi đường đi giữ gìn.
Người khuyên cẩn thận sớ tiên,
Kẻ răn nhắc nhỏm sách đèn sớm khuya.
Lôi thôi giở nỗi lâm kỳ,
Ngoài đầy vơi chén, trong mê mẩn tình.
Phu nhân hỏi: “Buôi đăng Kinh,
“Phỏng cho mấy đứa tuỳ hành theo ông?”
Mai công rằng: “Lọ chi đông,
140. “Một chàng Mai Bạch vốn trong họ nhà.
“Gọi là làm bạn đường xa,
“Gọi là ngày gió ngày mưa theo hầu.”

Còn đương trò chuyện trước sau,
Xôn xao nghe bỗng tiếng đâu gần gần.
Gót giày ông mới động chân,
Trông ra đã chật một sân những người.
Bẩm rằng: “Dân sự chúng tôi,
“Tấm lòng xin ngỏ, chút lời xin thưa.
“Từ ngày trọng lỵ đến giờ,
150. “Một đường sao phúc, muôn nhà phật sinh.
“Bao nhiêu lại tệ dân tình,
“Đuốc soi chẳng chút đỉnh đinh dám loà.
“Tấc lòng xem bẵng mẹ cha,
“Đọc ca mạch tuệ ngâm thơ cam đường.
“Bấm tay mười mấy năm trường,
“Mưa xuân tưới khắp một phương Lịch thành.
“Rày vâng thăng điệu lai Kinh,
“Thoả lòng hồ thỉ phỉ tình đai cân.
“Thênh thênh nhẹ bước thanh vân,
160. “Cành cây dám tưởng bận chân loan hoàng.
“Nghĩ cho chút phận tầm thường,
“Đạo con cái được tựa nương bấy chầy.
“Chỉn e tiếp lỵ sau này,
“Lòng thương cân được như rày mấy phân?
“Bấy giờ lễ cách quan dân,
“Tưởng công đức trước, lại năn nỉ nhiều.
“Lòng thành nay quyết xin theo,
“Làm đơn ái mộ dâng liều một chương.
“Hoạ là vua nặng lòng thương,
170. “Thấy tình Trường xã, lưu chàng Khấu quân.”
Ông rằng: “Vẫn biết lòng dân,
“Lời trung hậu ấy, tình thân ái này.
“Ta làm Huyện tể bấy nay,
“Có chi công đức đáng rày truy tư?
“Phương chi thế sự bây giờ,
“Dễ dò bụng hiểm, khôn lừa mưu gian.
“Họ Lư cưu dạ tham tàn,
“Rình như miếng mộc, những toan hại người.
“Phỏng mà nghe đặng như lời,
180. Hẳn là mua chuộc lòng người tại ta.
“Miệng sàm dệt gấm thêu hoa,
“Công nào chưa thấy tội đà đến ngay.
“Lại càng mang tiếng chẳng hay,
“Yêu đây để xấu cho đây ích gì?”
Dân nghe biết ý quyết đi,
Lui ra, còn dám nằn nì nữa đâu?
Một đoàn kẻ trước, người sau,
Khen cho rằng khéo bảo nhau một bề.
Lễ đâu đưa đến tức thì,
190. Vạn dân tản, vạn dân y sãn sàng.
Thưa rằng: “Gọi chút lễ thường,
“Mà lòng tạc dạ ghi xương còn dài”
Ông xem thấy ý vật nài,
Kíp truyền thu lễ, trao lời giã ơn.

Phu nhân công tử xuống thoàn,
Mai công ở lại đợi còn bàn giao.
Ngại ngùng thay, lúc phân bào!
Kẻ về tụ lý người vào ngọc kinh.
Cho hay là kẻ trung trinh,
200. Nặng lòng vương sự, nhẹ tình gia mang.
Mặc ai châu lệ hai hàng,
Gác tình nhi nữ xem thường như không.
Vài ngày huyện vụ giao xong,
Ra thành lên kiệu thẳng giong nhật trình.
Huyện dân chực sẵn tiễn hành.
Hương đăng bày án, tràng đình dọn nơi.
Đón đưa khắp mặt thiếu ai,
Mấy toà quan tỉnh mấy người hương thân.
Người dường ra ý ân cần.
210. Ông thì thủng thẳng có phần xem khinh.

Giã nhau mười dặm tràng đình.
Trông theo đã khuất mây xanh mấy trùng.
Nước non đưa đón người trung,
Suối tuôn giòng chảy, núi chồng lớp cao.
Nhởn nhơ cỏ đón hoa chào,
Hang men móc vượn, cây xào xạc chim.
Tấc gang kinh quốc chờ xem,
Đường ngày giục kiệu, điếm đêm đổ cờ.
Kià chài sớm, nọ cày trưa,
220. Gió gần giọng địch (mục), mây xa tiếng tiều.
Quê người phong cảnh đìu hiu.
Trăng thanh gió mát dường chiều chuông ai!
Những màng giong ruổi dặm dài,
Trông ra bỗng thấy bốn người xa xa.
Hỏi ra mới biết rằng là:
Trong kinh, Lại bộ sai nha đón mình.
Hoàng hôn gác bóng chênh chênh,
Truyền tìm quán khách bộ hành nghỉ ngơi.
Bốn người tức khắc vâng lời,
230. Trước đi tìm chốn thảnh thơi đón mời.
Tuy rằng quán khách hẹp hòi,
Chốn nằm cũng tĩnh, chốn ngồi cũng thanh.
Thung dung hỏi chuyện trong Kinh:
Lư, Hoàng lũ ấy tung hoành ra sao?”
Thưa rằng: “Chức trọng quyền cao,
“Triều quan quá nửa ra vào làm tôi.
“Ai ai khoá miệng bịt hơi,
“Ngang vua phú qúi, nghiêng trời uy linh.
“Đại gia rày ở quan Kinh,
240. “Theo đòi nhiều ít, thế tình là xong.”
Mai công nổi giận đùng đùng,
Rằng: “Phen này quyết chẳng dung loài hồ.
Vào đây ta sẽ hay cho,
“Đừng Tung, đừng Kỷ, hết Lư, hết Hoàng!
“Mặt nào bắt chước thế thường,
“Thiết tha ban tối, khoe khoang giữa ngày.”
Gan càng tức, ruột càng đầy,
Truyền thôi cuộc rượu, vào ngay trong bình.
Sáng mai thức dậy trông quanh,
250. Treo trên thấy có bực tranh Di, Tề.
Như khêu tấm dạ trung nghì,
Dạy đem nghiên bút thơ đề mấy câu.
Than rằng: “Thanh ứng khí cầu.
“Người kim cổ, bụng trước sau một đường.”

Lại truyền giục kiệu lên đường,
Trông kinh quốc đã tấc gang đó rồi.
Một vùng riêng đặt phỵ trời,
Hoàng thành trăm trắm, kỉ đài cao cao.
Cõi người nước nhược nguồn đào,
260. Liền mây ngàn dãy, bày sao trăm toà.
Chập chồng vách gấm tường hoa,
Cửa lầu ngũ phượng, thềm nhà lượng long.
Bách quan đóng chặt sân phong.
Tiếng chen xe ngựa, vẻ lồng cân đai.

Tìm vào Lại bộ tới nơi,
Truyền nha môn định, ngày mai tiến chầu.
Ngắm xiêm, sụa mũ giờ lâu,
Uốn lưng năm lạy, Khấn đầu ba phen.
Lạy rồi ren rén tâu lên,
270. Chúc câu vạn tuế, dâng lên cửu trùng.
Tiếng trời đưa lại bệ rồng:
“Đặt toà gián viện kén dùng kẻ trung.
“Sau cho sắt đá một lòng,
“Miệng hùm chớ sợ, vảy rồng chớ ghê.”
Tâu rằng: “Hổ phận ngu si,
“Đem lòng khuyển mã đền nghì bể sông.”
Tan triều lệnh ngự vào trong,
Bách quan lui xuống đều cùng bước ra.
Mai công toan trở lại nhà,
280. Tiện gần tướng phủ sang qua vào liền.
Nghiêm trang cụa thế sân quyền,
Trước bia hạ mã chật lèn ngựa xe.
Ông bèn giả cách vô tri,
Ngồi trăm trắm kiệu, vào kề nghi môn.
Môn quan trông thấy thét dồn,
Xôn xao bẻ bót, ôn tồn hỏi tra.
Ông rằng: “Đâu chẳng biết ta,
“Huyện quan về bộ Lại khoa ngày rày.
“Buổi chầu nhân tiện sang đây,
290. Nhờ ai trong ấy bẩm thay cho tường.”
Môn quan rằng lệ phủ đường,
“Có đồ yết lễ, có vàng mấy bao.
“Có thì sẽ bẩm cho vào,
“Bằng không hãy chực ngoài rào xa xa.”
Ông rằng: “Lệ đặt bao giờ,
“ấy là quốc pháp hay là phủ qui?
“Ta đây vốn chẳng cần chi,
“Vào thì cũng được, ra thì cũng nên!”
Không xuống kiệu vẫn ngồi trên,
300. Tay cầm thủ bản ném bên thềm ngoài.

Kíp truyền quân kiệu tháo lui,
Sang toà Đô sát, họp người đồng niên.
Phùng công ra đón rước liền,
Chủ tân một hội, hàn huyên mấy lời.
Sự tình kể lể lôi thôi,
Ngoài ngàn muôn dặm, trong mười mấy năm.
Xiết bao trò chuyện tri âm,
Khói hương cao thấp, chén chầm đầy vơi.
Mai công rằng lúc mới rồi,
310. “Tức gan mà lại nực cười lắm sao.”
Kể từ tướng phủ mới vào,
Thế nào khinh dể, thế nào hỏi han,
Miệng đường lại, mặt môn quan,
Kẻ xin đòi lễ, mình toan ném tờ.
Đinh ninh kẽ tóc chân tơ,
Từ đầu đến cuối kể qua một hồi.
Chư công rằng: “Hãy kín hơi,
“Nghĩ cho chín, mới là người tri cơ.
“Rồi đây trời cũng có ta,
320. “Làm bao giờ, biết bấy giờ, mới cao.”
Ông rằng: “Như thế thảo nào,
“Bè gian trách chẳng quyền hào lắm ru!
“Như bây giờ việc nên lo,
“Quấy hôi đặt miệng, bày trò Trào châu.
“Tôi đà tính trước nghĩ sau,
“Muốn yên chi khỏi lấy đầu họ Lư?
“Thôi đừng sợ oán sợ thù,
“Rày lần mai lữa, nhập nhù khó coi.
“Việc này giao một mình tôi,
330. “Để mà xem Kỷ với Mai thế nào!
Ví bằng giải kết làm sao,
“Giữ gìn Mai thị trỏ vào lối sinh.
“Già này dù thác cũng vinh,
“Suối vàng khuất mặt cũng khinh khích cười.”
Thoắt thôi từ tạ mấy người,
Tấc lòng thề chẳng đội trời với ai.

Ngày xuân thấm thoắt đưa thoi,
Lư công tuổi thọ sáu mươi vừa tuần.
Định ngày vui mở tiệc xuân,
340. Vua cho lễ vật nội thầnđem ban.
Lại truyền văn võ bá quan,
Cứ ngày cùng đến tướng môn lễ mừng.
Phủ đường dọn dẹp tưng bừng,
Rỡ ràng kết thái trương đăng trong ngoài.
Vóc đề chữ, gấm thêu bài,
Vịnh ca Thiên bảo, chúc lời Nghiêu hoa,
Dập dìu chốn vũ nơi ca,
Trò bày bách hí, nhịp hoà bát âm.
Chong giá nến, quạt lò trầm,
358. Rót bình rượu ngọc, dâng mâm đào vàng.
Võng đầy cửa ngựa chen đàng,
Khắp triều quan đến, khắp hoàng thân ra.
Bày phô chén ngọc đũa ngà,
Gia hào mấy vị, trân la mọi mùi.
Tướng công thăm thẳm xa ngồi,
Tiếp tân phó mặc con nuôi họ Hoàng.
Mai công lễ vật tầm thường,
Miến vài cân với lạp hoàng vài đôi.
Hoàng Tung trông thấy mỉm cười,
360. Tìm Lư công, đến tận nơi tiến trình.
Tướng công ngồi trước thọ bình,
Chói vàng bông mũ, ngắt xanh hoa bào.
Tứ bề trướng gấm màn đào,
Mùi hương xạ ngát, tiếng thiều nhạc rung.
Trông ra nhác thấy Hoàng Tung,
Xem đơn lễ mới thung dung dạy lời:
“Ít nhiều có lễ thì thôi,
“Hãy thu lấy đấy, khuyên mời hẳn hoi.
“Tay này là bậc đại tài,
370. Để ta mua chuộc làm tôi tớ nhà.”
Cứ lời Tung mới bước ra,
Chào rằng: “Vâng mệnh ân gia mời ngồi.
“Lễ đơn đây đã thu rồi,
“Dám xin vài chén tiệc vui gọi là!”
Mai công rằng: “Những ở xa,
“Chẳng hay quí chức tuổi đà bao nhiêu?”
Tung rằng tuổi cũng chưa nhiều,
“Năm mươi tư tuổi gần theo cõi già.”
Ông rằng: “Thực cũng khéo là,
380. “Thế mà nghĩa phụ thế mà ân nhi.
“Sống lâu thấy lắm chuyện kỳ,
“Sao xưa nay vẫn không nghe tiếng đồn?
“Mới hay vượng khí tướng môn,
“Năm lên sáu tuổi sinh con đầu lòng.”
Tung nghe ra giọng đâm hông,
Mặt ngăn ngắt tím, mắt sòng sọc trông.
Các quan biết ý Hoàng Tung,
Giả điều mời rượu Mai công ép nài.
Ông rằng: “Lượng rượu kém ai,
390. “Tiệc vui, dù chẳng đợi mời cũng say.
“Nghe hơi tử khí đâu đây,
“Dẫu rằng nửa chén đưa cay chẳng màng.
“Đến đây vâng mệnh Thánh hoàng,
“Sá vui kèo rót với tuồng quyền gian.”
Hoàng Tung đỏ mặt sốt gan,
Bất thình lình bỗng trong bàn mất vui.
Như mèo tiu nguỷu mất tai,
Chẳng thu một lễ chẳng mời một ai.
Vào trong tức tối một hơi,
400. Bên màn Lư Kỷ, kê ngồi nỉ non.
Nhỏ to chua cái chua con:
“Hôm xưa kiệu đến nghi môn còn ngồi.
“Mới rồi đưa lễ giễu chơi,
“Đã câu rủa mát, lại lời đưa chênh.
“Gần chùa gọi bụt là anh,
“Không văn pháp nữa, còn danh giá gì”
Lư rằng: “Con chớ lo chi,
“Ra tay, rồi sẽ liệu bề bẻ mai.
“Cho vào bạn đảng thì thôi,
410. “Bấy giờ dẫu nghĩ kêu trời cũng xa!”

Bè gian đang sắp mưu lừa,
Bỗng đâu nội giám đã ra truyền đòi.
Liền tay thảo sớ một bài,
Theo chân nội giám vào nơi đền vàng.
Vua Đường rằng: “Buổi thong dong,
“Hứng vui nên triệu tướng công hầu cờ.”
Bàn son bày sẵn quân ngà,
Lư công có ý chịu thua hai bàn.
Đứng tâu trước mặt long nhan,
420. “Lòng lo việc nước, nào toan việc cờ.
“Ai hay những việc chẳng ngờ,
Lời biên quan báo, thực là không sai.
Ong trong tay áo có người,
“Giao thông giặc Thát toan bày nọ kia.
“Tâu lời nghe những ngô nghê…”
Một tờ đoản biểu tức thì giở ra.
Vua Đường cất lấy xem qua,
Mới hay bạn nghịch ấy là Bá Cao.
Truyền đem chính pháp thị tào,
430. Lư công xin để buộc vào có tang.
Ghé tai tâu mật mọi đường:
“Xin làm như thế mới tường đầu đuôi.”
Buổi chầu vừa rạng ngày mai,
Đường hoàng rằng: “Mới tin ngoài lại tâu
“Ải quan rợ Thát quấy rầy,
“Định ngày tiến thảo ngõ hầu an biên.
“Cho Đông Sơ với Lạc Thiên,
“Kẻ quyền tham tán, người quyền Đổng binh,
“Văn thần ra sức đãng bình.
440. “Dẹp yên khói giặc, quét thanh bụi Hồ.”
Hai người nghe nói căn do,
Trước thềm phủ phục, mướt bồ hôi lưng.
Mai công ra trước tâu rằng:
“Dám bày lòng kiến xin dâng bệ rồng.
“Phen này động việc binh nhung,
“Cũng vì Lư Kỷ, Hoàng Tung hai người.
“Khéo là bày việc trêu ngươi,
“Cầm cơ chẩn mễ, cướp mồi tiểu di.
“Thóc kho, của nước thiếu chi,
450. “Xin cho chẩn thải theo y lệ thường.
“Lấy đầu hai gã Lư, Hoàng,
“Ắt là Thát trở về hàng không sai.
“Can chi gây việc cõi ngoài,
“Đem tài qua giáp, ép người văn chương.
Đường hoàng nổi giận vội vàng,
Rằng: “Vì giặc Thát tìm đường hoãn binh.”
Kíp truyền đao phủ chỉnh hình,
Mới hay tấm dạ kiên trinh khác thường.
Hãy còn ngảnh lại triều đường,
460. Miệng còn sỉ nhục Lư, Hoàng chưa thôi.
Thương thay trung nghĩa như ai,
Sa cơ một phút ra người cửu nguyên.
Trần Đông Sơ với Lạc Thiên,
Vạ lây cũng phải cách quyền hồi dân.
Hai người thương kẻ trung thần,
Nghĩ tình bạn hữu ân cần thở than.
Cùng Mai Bạch mới lo toan,
Vào chùa Tướng quốc bàn hoàn với sư.
Xin đem linh cữu để nhờ,
470. Giục chàng Mai Bạch về nhà đưa tin.
Mới hay tục ngữ thế truyền,
Lời rằng: “Hoạ chí vô đơn “cũng thường.”
Lòng chua xót, bước phong sương,
Nửa đường Bạch cũng suối vàng chơi xa.

Phần 3: Nhị độ mai

Mai Lương Ngọc, con Mai Bá Cao lưu lạc sang nhà Trần Đông Sơ là bạn Mai Bá Cao và được Trần Công gả Hạnh Nguyên cho.

Lư công mạo chỉ truyền ra,
Đến Thường Châu nã một nhà họ Mai.
Ruổi mau lệnh tiễn hoả bài,
Mấy ngày thoắt đã tới nơi châu Tường.
Còn đương trách cứ phủ đường,
480. Mỏng tai may có một chàng Đồ Thân.
Đêm khuya kíp vội dời chân,
Mách công tử với phu nhân liệu đường.
Mẹ con xiết nỗi kinh hoàng,
Cùng xuôi nỗi thảm, vội vàng trốn đi.
Chia đường tìm chốn trợ thì,
Đỡ khi gấp rút, đỡ khi vận cùng.
Phu nhân sang đất Sơn đông,
Có em lỵ đó cũng trong đồng bào.
Đồ Thân lòng tiết nghĩa sao,
490. Tưởng ân nghĩa trước xin theo đi cùng.
Sửa sang hành lý vừa xong,
Một công tử với Hỉ Đồng đi ra.
Nghi trưng huyện ấy chẳng xa.
Nhạc thân lỵ đó tên là Hầu Loan.
Ngại ngần gặp bước gian nan,
Người bâng khuâng mẹ, kẻ bàn hoàn con.
Trời đà mở lối sinh môn,
Rồng về biển, cọp về non bao giờ?
Phủ binh khen khéo hững hờ,
500. Canh năm vừa kéo đến nhà họ Mai.
Trước sau nào có một ai,
Khói nhà lạnh ngắt, tiếng người vắng tanh.
Sai nha thấy thế nghi tình,
Bảo nhau tầm nã chung quanh trong làng.

Phu nhân phận ấy đã cam,
Cũng may được chốn nhà em nương mình.
Thương thay công tử tuổi xanh,
Long đong mấy hội, gập ghềnh mấy phen.
Từ khi thầy tớ xuống thuyền,
510. Thuận giòng thuỷ đạo tới miền Nghi trưng.
Tới nơi lên bộ dùng dằng.
Vào nơi phạn điếmhỏi chừng trước sau.
“Lạ lùng xin tỏ cho nhau,
“Huyện quan có phải họ Hầu tên Loan?”
Nhà hàng thấy nói hỏi han,
Trình rằng: “Thôi chớ hỏi bàn làm chi.
“Lòng người ăn xổi ở thì,
“Nặng bên danh lợi, nhẹ bề thân hơi.
“Cho hay giàu điếc sang đui,
520. “Tìm vào trước đã lắm người ra không.”
Nghe thôi công tử ngại ngùng,
Ngồi bên, khen gã Hỉ Đồng mỏng tai.
Đêm khuya ghé lại rỉ lời:
“Lòng người nham hiểm, thói đời viêm lương.
“Mời rồi nghe chuyện nhà hàng,
“Họ Hầu đây cũng là phường lăng nhăng.
“Mà ta lánh nạn băng chừng,
“Chúng tôi dại dạ, nghĩ đừng vội tin.
“Chấp kinh nếu chẳng tòng quyền,
536. “Sợ chi muôn một chu tuyền làm sao?
“Tôi xin thay mặt trước vào,
“Nghe tình hình ở thế nào thử xem.
“Bằng ra lòng cá dạ chim,
“Tôi đương nạn ấy, người tìm nẻo xa.”
Túi hành lý gửi vào nhà,
Tớ thầy đổi áo bước ra lên đường.
Lạ lùng lẫn lộn hèn sang,
Hỉ Đồng đi trước, để chàng theo sau.
Đồng đà liệu trước mưu sau,
540. Mua tì sương đã buộc đầu đai lưng.
Bước vào cửa huyện Nghi trưng.
Để công tử chực nghe chừng một nơi.
Cậy người môn lại thưa lời,
Đưa tin bán tử họ Mai sang hầu.
Truyền cho vào tận trong lầu,
Hầu Loan hỏi hết gót đầu vân vân.
Hỉ Đồng thưa chuyện xa gần,
Nỗi nhà oan khốc, nỗi thân lạc loài.
Thoắt thôi gỉa cách sụt sùi,
550. Nào hay Hầu thị là người bạc đen.
Dứt lời trở mặt quở liền:
“Tội nhân ai dễ cò quyền dám dong?
“Con ta yểu điệu khuê phòng,
“Có Tây tử đó, thiếu đông sàng nào!
“Ở đây mười mắt trông vào,
“Rõ ràng án ấy, tha sao cho đành.”
“Kíp truyền ngục tốt giao canh,
“Rồi đây ta sẽ tiến kinh cho rồi!”
Bấy giờ công tử đứng ngoài,
560. Trông vào đã thấy tơi bời điệu ra.
Quá thương dường muốn hỏi qua.
Hỉ Đồng liếc mắt xa đưa ý chàng.
Trong mình sẵn gói tì sương,
Giở ra nuốt ực quyết đường quyên sinh.
Nghĩ người con trẻ thương tình,
Nghĩa thầy tớ nặng xem thân mình không.
Tưởng là Mai thị thân vong,
Giả hình ai biết Hỉ Đồng là ai?
Một đoàn ngục tốt tơi bời,
570. Khiêng ra cửa bắc, táng ngoài đồng không.
Mai sinh theo hút xa trông,
Viếng thăm làm dấu, mới phong nên phần.

Nghĩ đi nghĩ lại tần ngần,
Tay không đất khách, một thân quê người.
Biết cùng ai tỏ khúc nôi,
Dở dang hai lẽ, tới lui khó lòng.
Bước lần bỗng thấy gần sông,
Xuống thuyền nhờ để tìm vùng lánh xa.
Trọn ngày đến bến, lên bờ,
580. Trời hôm vào đấy là chùa Thọ am.
Than rằng: “Tội báo cho cam,
“Thế này trời hãy còn làm đến đâu.
“Họ Lư tầm nã còn lâu,
“Tấm thân đã biết về sau thế nào?”
Trong lưng sẵn giải lụa đào,
Cởi ra, sinh đã buộc vào cành cây.
Thương ôi! Sao khéo đang tay!
Thân này đã quyết với dây ấy rồi.
Trời còn cứu kẻ anh tài,
590. Trong chùa bỗng có một người bước ra.
Lòng lành thấy sự oan gia,
Trở vào bạch lại sư già trước sau.
Sư ra dạy cởi xuống mau,
Khương thang kíp đổ, giờ lâu tỉnh dần.
Thấy người trạng mạo văn nhân,
Quá thương sư mới hỏi gần hỏi xa.
Nỗi mình đâu dám giở ra,
Sinh bèn chống chế, kêu ca liệu lời:
Rằng: “Con chút phận tôi đòi,
600. “Giữ đồ thầy để mất vài bốn bao.
“Trở về nghĩ chẳng tha nào,
“Cực mình nên phải quyết liều quyên sinh.
Sư rằng: “Cửa bụt thênh thênh,
“Tòng quyền hãy tạm gởi mình ở đây.
“Nhà chùa công việc cũng đầy,
“Dẫu rằng lau án, tưới cây cũng là,
“Vả trông ra dáng con nhà,
“Sẵn nghiên bút viết một và tờ xem.
“Dẫu rằng xấu tốt chẳng hiềm,”
610. Sinh bèn đề chữ “Thọ am tự thuyền”.
Sư rằng: “Này bút thiên nhiên,
“Lọ tìm Vũ kiếm, lọ khen Lan đình.”
Phòng văn giao mặc viết kinh,
Vườn hoa lại phó một mình sửa sang.
Sức người như giúp hơi dương,
Một vườn tươi tốt bằng dường thêm xuân.

Những mong bóng Phật nương thân.
Hay đâu bỗng chốc lương nhân giắt vào.
Nỗi sư nào biết đâu nào,
620. Chẳng là tên gọi Nhật Cao họ Trần.
Thám hoa võ cử xuất thân,
Ba nơi toạ trấn mấy lần đổng binh.
Thờ ơ áng lợi quyền danh,
Vui lòng tuyền thạch gửi mình thuyền am.
Trần Đông Sơ ấy là em,
Một ngày thong thả mới tìm sang chơi.
Anh em kể lể lôi thôi,
Có khi nhắc chuyện họ Mai khóc thầm.
Mai sinh riêng dạ nghĩ ngầm,
630. Xem trò chuyện ấy, biết tâm tích rồi.
Hai ông tìm hứng mua vui,
Giắt tay, sánh bước, chân dời vườn sau,
Xem hoa vừa ý, gật đầu,
Trình anh, mới kể mấy câu nằn nì:
“Mười năm theo việc vương kỳ,
Sân Đào mấy lớp, Đông ly bỏ rèm.
“Gốc cằn, cỗi rậm, khó xem,
“Cỏ cây ví với am thuyền kém xa.
“Tiểu đây kể khéo có thừa,
640. Nhà em bên ấy tạm nhờ một tay.”
Sư rằng: “Anh cũng là may,
“Ngày xưa được chú tiểu này bỗng không
“Họ Vương tên gọi Hỉ Đồng,
“Bút nghiên tay giỏi, nghi dung con nhà.
“Việc quen sửa cảnh, vun hoa,
“Cho về bên ấy nương nhờ cũng hay!”
Mai sinh bèn lạy tạ thầy,
Theo về Trần phủmột giây đến nhà.
Trần công cười nói lôi la;
650. Đòi công tử với cùng là phu nhân.
Tiểu thư cũng gọi đến gần,
Rằng: “Hôm nay buổi dời chân tham thuyền.
“Xin về được gã thiếu niên.
“Cảnh hoa việc biết, bút nghiên nghề nòi.”
Những xem phong dạng con người,
Một nhà ai cũng một lời khen lao.

Mai sinh đành phận biết sao,
Khi ra viết thiếp, khi vào sửa hoa.
Cửa người ngày tháng lân la,
660. Một mình riêng những xót xa sự mình.
Sinh ly xa cách huyện đình,
Một cây bóng ngả mấy cành tang du.
Sơn đông non nước mịt mù,
Niềm thương nỗi nhớ biết hồ có nguôi.
Nghi trưng một nắm cát vùi,
Vì ai nên nỗi thiệt thòi đến ai.
Sau này dù nhận có người,
Nghĩa kia biết có đền bồi được chăng?
Thành sầu cao ngất tầng tầng,
670. Một vườn ngày gió đêm trăng thẫn thờ.

Hay đâu con tạo lọc lừa,
Chen vòng hắc vận, trao tơ xích thằng.
Có phen bên gió dưới trăng,
Buổi man mác bóng, cơn văng vắng người.
Trong vườn tha thướt dường ai,
Xem hoàn đổ lá, giục đòi hái hoa.
Người đâu trong ngọc trắng ngà,
Mặt vành vạnh nguyệt, tóc ngà ngà mây.
Lập loà mớ đính mớ thay,
680. Sắc xiêm hoa dệt, nét giày phượng thêu.
A hoàn một lũ nối theo,
Quạt tha thướt phẩy, lò dìu dặt mang.
Xa xa thong thoảng mùi hương,
Mai sinh trông liếc rõ ràng tiểu thư.
Mối tình buộc lấy khư khư,
Hồn bâng khuâng quế, phách thờ thẫn mai.
Của đâu trêu ghẹo chi ai,
Ấy người cung Quảng, hay người đài Dương.
Tấc riêng, riêng những mơ màng,
690. Chữ tư đề dưới chữ tương ngày ngày.
Nghĩ mình lưu lạc đã dày,
Chút niềm tâm sự dám bày cùng ai.
Lại mang cái tiếng tôi đòi,
Nhân duyên trời có chiều người cho chăng?

Thu đông trải mấy gió trăng,
Bông đào chợt đã báo chừng nửa xuân.
Một vườn cảnh vật tiên tân,
Mõ xa cành biếc, kệ gần lưỡi oanh!
Trần công nhân buổi dạo quanh,
700. Đầy vườn thấy nở chật cành hoa mai.
Tính ngày mai, tối mười hai,
Truyền làm tiệc rượu đặt nơi hoa đình.
Vào trong khi bất thình lình.
Phu nhân xem thấy ra tình không vui.
Rằng: “Vườn ta cảnh ưa người,
“Sắc ông sao bỗng kém tươi, thêm sầu?”
Ông rằng: “Chẳng đánh mà đau,
“Ngày mai sực nhớ giỗ đầu Mai huynh.
“Nghĩa bằng hữu, bậc trung trinh,
710. “Thấy hoa mai, bỗng động tình xót ai.”
Sáng ngày mượn tiếng thưởng mai,
Đem lòng thành kính, viếng người tinh anh:
“Có thiêng chăng nhẽ Mai huynh!
“Chớ nề u hiển, thấu tình anh em.
“Bây giờ kẻ khuất đã cam,
“Kẻ còn giong ruổi cho tìm thấy tôi.”
“Trông hoa lại nhớ mấy lời:
“Họ Mai còn chút lạc loài nên thương.
“Phỏng ngày sau có ra tuồng,
720. “Thì hoa mai nở bội thường hơn xưa.”
Hoá nhi khen khéo thờ ơ,
Bởi đâu một trận gió mưa đêm trường.
Sáng mai trông lọt bốn tường,
Cành hoa dưới đất, mùi hương trên trời.
Trần công thấy chẳng nên lời.
Thương tình bạn, giận sự đời, ngổn ngang.
Gác ngoài phú quí một tràng,
Mũ ni, tràng hạt, quyết đàng xuất gia.
Phu nhân, công tử vào thưa:
730. “Xưa nay mưa gió rụng hoa là thường.
“Làm chi nhọc bụng lo lường,
“Tuổi già, nhà vắng, thêm đường dở dang.
Ông rằng: “Thôi chớ bàn ngang.
“Một lời nói, dẫu nghìn vàng đổi sao!

Cả nhà xiết nỗi thảm sầu,
Tiểu thư lập chước thưa sau giãi bày.
Rằng: “Xin đợi lại mấy ngày,
“Cầu trời khấn Phật hoa này lại tươi.”
Ông rằng: “Thực có như lời,
740. Mai hai độ nở mới dời lòng ta.”
Tiểu thư ra trước vườn hoa,
Khẩn năm bảy lượt, lạy và bốn phen.
Lòng thành thấu cửu trùng thiên
Cành phàm đã chắp hoa tiên bao giờ.
May đâu đến bữa thứ ba,
Mai sinh thức dậy, bấy giờ còn khuya
Hương đâu phưng phức tứ bề,
Hoa đâu san sát đầy khê một vườn.
Tấm lòng mừng rỡ như son,
750. Đề thơ tứ tuyệt thất ngôn một bài.
Đề rồi bẻ một cành mai,
Trao con đòi, cậy đưa lời Trần công.
Một nhà thấy sự lạ lùng,
Trước sau lũ lượt đều cùng tới coi.
Trần công rằng: “Sự tỏ mười,
“Chắc rằng Mai thị còn người làm nên!”
Nỗi tu gác bỏ một bên,
Truyền đem tửu quả đặt lên hoa đình.
Trên bày bài vị Mai huynh,
760. Bấy giờ tình cảnh Mai sinh thực là.
Tìm nơi đình tử xa xa
Trông ngay trước mộc vị cha, thở dài.
Vô tình ai biết là ai,
Tiểu thư liếc mắt đưa chơi biết tình.
Sinh xem biết ý chân thành,
Nỗi nghi dường đã bớt canh cánh lòng.
Nhớ tên hiệu chữ Mai công,
Đề vào mảnh giấy dán trong nắp hòm.
Ra vào giấu giếm, nom dòm,
770. Gọi là tiện chút sớm hôm phụng thờ.
Trần công đi lại xem hoa,
Truyền đòi công tử tên là Xuân sinh.
Rằng: “Ta xưa những ở Kinh,
“Chẳng hay con đã học hành tiến chưa.
“Rày nhân “Nhị độ mai” hoa
“Con đề tức cảnh một thơ tiến trình.”
Còn đương khuyên bảo Xuân sinh,
Trông lên đã thấy bên bình có thơ.
Trần công đòi hỏi bấy giờ,
780. Mới hay đề đó là thơ Hỉ Đồng.
Khen câu ngọc đúc vàng ung,
Vóc trong miệng, gấm trong lòng vẽ nên.
Xuân sinh thấy sẵn thơ trên,
Cũng theo vận ấy đề liền bốn câu.
Trần công vừa ý gật đầu,
Tiểu thư lại thấy ở đâu đến gần.
Dạy rằng: “Nữ tử, văn nhân,
Theo đòi con cũng hoạ vần thử xem.
Tiểu thư cầm bút vâng lời,
790. Bên tường cũng vịnh một bài nối sau.
Khen tài nhả ngọc phun châu,
Ba vần già giặn, bốn câu thanh kỳ.
Yên xong, ông trở ra về,
Cùng phu nhân mới nằn nì một hai:
“Hỉ Đồng là kẻ có tài,
“Ở đây chớ để tôi dòi xem khinh.”
Mai sinh thui thủi bên đình,
Một mình tính quẩn lo quanh việc nhà.
Xưa nay nghe tiếng đồn xa,
800. Phồn hoa thứ nhất ấy là châu Dương.
Hôm nay nhân buổi thanh lương,
Rời chân xem thử phố phường những sao.
Trập trùng quán thấp lầu cao,
Tạ Vương mấy chốn, Nguyên, Đào mấy nơi.
Xe lừa dù có chen vai,
Kìa người đại cổ nọ người phú thương.
Màn che mái, gạch ken đường,
Bầu nhà vàng nuột, rèm hàng lưu ly.
Khắp người viễn khách cư kỳ,
810. Tây Dương chung cảng, Cao Ly riêng hàng.
Lớp ngoài một dãy trường giang,
Tàu chen mũi đỗ, thuyền giương buồm về.
Chài lan san sát lá tre,
Chiếc đua máy đẩy, chiếc kề bến neo.

Những là mến cảnh noi theo,
Khi về vừa bóng xế chiều tới nơi.
Phòng riêng đã vắng tam hơi,
Nắp hòm bỏ ngỏ, vị bài thấy không.
Tìm sau tìm trước lung tung,
820. Nghĩ riêng lòng những giận lòng đòi cơn.
Ai hay trong lúc du quan
Tiểu thư cùng với thuý hoàn ra chơi.
Mở hòm nhác thấy một bài,
Ngạc nhiên cất lấy thưa lời đến ông.
Trần công rằng: “Sự lạ lùng,
“Hỉ Đồng này thực Mai công tử rồi!”
Đòi thuý hoàn, mới dạy lời,
Dặn dò hãy thử ướm chơi thăm tình.
Hoàn rằng: “Hơi hỡi Mai sinh,
830. “Toan gieo cái vạ tày đình cho ai?
“Bây giờ Lư tướng nghe hơi,
“Sai về trách cứ một hai lấy người.
“Kẻo còn quanh quẩn những lời,
“Còn nay Vương thị, còn mai Hỉ Đồng?”
Mai sinh nghe tỏ sự lòng,
Uốn lời thú thực phô sòng van lơn:
“Mai nay muôn đội ơn hoàn,
“Mưu gì cứu được khỏi cơn đường cùng.”
Tuý hoàn mới ngỏ thực lòng:
840. “Vâng lời tôi thử ướm lời đấy thôi.
“M ới rồi nhân thấy vị bài,
“Rõ tình ông dạy cho lời không sao!”
Mai sinh ren rén bước vào
Nửa mừng nửa sợ biết bao nhiêu tình.
Ông rằng: “Sau những dấu quanh,
“Nghĩ là ai, chẳng là mình đấy ư?
“Thế mà bác cứ thờ ơ,
“Thứ cho lỗi ấy từ xưa đến rày.”
Lạy rồi, sinh mới giãi bày:
850. Từ ngày về quán từ ngày nghe oan.
Bao nhiêu tình tự nguồn cơn,
Sơn đông chia bước, Hầu Loan trở lòng,
Ơn Đồ Thân, nghĩa Hỉ Đồng,
Dây oan khi cởi, cửa không khi nhờ.
Bước đường xa, cái sống thừa,
Tấc riêng riêng những nào ngờ có nay!
Ông rằng: “Nương náu ở đây,
“Thù kia ắt cũng có ngày trả xong.
“Niệm cũng công tử một phòng,
860. “Anh em liệu đấy dốc lòng nghiệp nho.
“Tình thế nghị nghĩa giao du,
Văn chương tri kỷ, chuyện trò chiếu tâm.

Mặc ai gặp bạn tri âm,
Ông bà luống những bàn thầm rỉ tai:
“Mai sinh là bậc thiên tài,
“Câu văn cẩm tú, vẻ người y quan.
“Lòng ta muốn gả Hạnh Nguyên,
“Thiên tài, quốc sắc hai bên cũng vừa,
“Chẳng lâu, thấy đó bây giờ,
870. “Bảng vàng rõ mặt, đuốc hoa định ngày.
Bà rằng: “Được thế là may,
“Thế thì tuổi tác lòng này cũng an!”
Thày lai có một thuý hoàn,
Ra vào nghe thấy chuyện bàn đinh ninh.
Lòng riêng, riêng cũng thuận tình,
Khi ra đon đả với sinh thì thầm.
Người khuê các khách thư cầm,
Ngoài đành đãi ngọc, trong đành tựa mai.

Phần 4: Trần Đông Sơ bị gian thần hãm hại

Gia đình họ Trần bị gian thần hãm hại, người bị bắt giam, kẻ chạy trốn, bức Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử để giữ lễ tiết với chồng.

Ông tơ khen khéo cợt người,
880. Đã xe vào, lại thử rời Bắc, Nam.
Làm cho chí tái chí tam,
Rồi ra đố lại vào ngàm mới thôi.
Phủ Trần chưa hết chuyện vui,
Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài.
Đảng công, Lư Kỷ ngồi ngoài,
Truyền rằng có chỉ dạy đòi Trần gia.
Đọc rồi mới biết rằng là:
Biên quan có nước Sa đà động binh.
Khói lang, bụi ngựa tung hoành.
890. Khuấy hôi cõi Hán, chọc tanh ải Tần.
Lư công dâng chước hoà thân,
Truyền đòi con gái họ Trần kết thân,
Ban cho áo mũ Chiêu Quân,
Đảng công vâng mệnh đưa chân cõi ngoài.
Nghe ra xiết nỗi bồi hồi,
Ấy ai mưu hiểm, giục người sinh ly?
Khởi hành đã định nhật kỳ,
Lư công giục giã ngận tuỳ quân sai.
Hạnh Nguyên ra yết nhà ngoài,
900. Ngứa gan tấm tức mấy lời vân vân:
“Vẻ chi một chút Hồ trần,
“Những tài thao lược, kinh luânđâu nào?
“Dẹp yên mượn sức má đào,
“Khen ai đặt để cái mưu cũng gìa!
“Kiếp này không xé được da.
“Kiếp sau quả báo, oan gia kẻo gì.
“Gớm tuồng mộc vị, thần vì,
“Mãng thêu hoài chỉ, đai suy uổng vàng.”
Lư công nghe nói ngang tàng,
910. Mắt sòng sọc khoé, mặt sường sượng gân.
Tiền đường dọn tiệc chủ, tân,
Đảng công cất lẻn vào dần nhà trong.
Trần công rỉ bảo Đảng công,
Trỏ Mai sinh mới giãi lòng một hai.
Rằng: “Này công tử họ Mai,
“Trong khi hoạn nạn lạc loài đến đây.
“Em cho nương náu những ngày,
“Rắp đem tiểu nữ sum vầy kết duyên,
“Mưu kia ai vẽ cho nên,
920. “Để loan chếch bóng cho uyên chia hàng.
“Việc nhà nhờ bác sửa sang,
“Cho cùng Trần điệt lên đường xuất quan.”
Thoắt thôi nghe có lệnh troàn:
Bốn mươi thị nữ dân gian kén rồi.
Trong danh sách bấy nhiêu người,
Cùng ra Phiên quốc theo đòi Hạnh Nguyên.
Lại truyền không được trì diên,
Trong hai ngày hạn xe tiên lên đường,
Áo Hồ đưa lại một rương,
930. Dạy cho nương tử cải trang xuất hành.
Nàng rằng: “Quân mệnh đã đành,
“Tủi mình khuê khổn, liều mình tinh triên.
“Bao giờ khỏi đất Trung nguyên,
“Bấy giờ thay áo Hồ phiên vội gì.
“Chịu trời chăng! Một chữ thì,
“Áo này dù đổi, lòng kia khôn dời!
“Đảng công khen đã nên lời,
“Cứng lòng, thiết thạch hổ người tu mi.
Thẹn thay cho kẻ vô nghì.
940. Khi này dạ Sở, lúc kia bụng Tần.
Lời trung khêu ruột gian thần,
Bưng tai giả điếc, nổi gân bất bình.
Ngoài thì quan khách linh đình,
Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly.
Lạy hai thân, kể mọi bề,
Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.
Rằng: “Con chút phận nữ hài,
“Công cha nghĩa mẹ chốc mười mấy niên.
“Môn mi mong những nhờ duyên,
“Ngỡ đem tấc cỏ báo dền ba xuân,
“Hiểm thay chước kẻ gian thần,
“Xui nên kẻ Tấn, người Tần như không.
“Có ra chi, phận má hồng,
“Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù.
“Rồi đây muôn dặm đất Hồ,
“Biết câu thập nữ viết vô từ rày.
“Xin đừng nhớ đổi, sầu thay,
“Liều bằng muôn một những ngày một hai.”
Thoắt thôi sùi sụt ngắn dài,
960. Gập ghềnh mới ngụ một bài biệt thi.
Giờ lâu lưỡng lự vân vi,
Gọi Xuân sinh lại nằn nì rỉ tai:
“Nặng vì chút nghĩa họ Mai,
“Ngẫm ra âu cũng có trời ở trong.
“Lời cha mẹ nghĩa vợ chồng,
“Nhân duyên chưa ghép, chữ đồng đã in.
“Vả xem bậc ấy không hèn,
“Rõ gương khoa giáp, rõ niềm tướng khanh.
“Nhờ em đãi lấy lòng thành,
970. “Ngoài tình bầu bạn, trong tình anh em.
2″Mọi bề trong ấm ngoài êm,
“Chị dù chín suối cũng cam tấc lòng.
“Chị nhờ em gánh hiếu trung,
“Chồi huyên gần cỗi, gốc thung gần già
“Công danh tuổi ấy đương vừa,
“Trâm anh, chung đỉnh dấu nhà sẵn đây.
“Dù thương đến chị sau này,
“Hoặc tuần hàn thực, hoặc ngày thanh minh.
“Suối vàng rưới một giọt tình
980. “Nén hương, tờ giấy, chén canh cũng là!”
Lôi thôi xiết nỗi gần xa,
Trông Mai công tử dường đưa mối sầu.
Thẹn thùng khôn nói năng đâu,
Sóng thu một lét, hạt châu đôi hàng.

Cửa ngoài chực sẵn xe hương
Lư công giục giã lên đường xuất quan.
Kiệu phu bước nhặt, bước khoan
Đảng công một ngựa điệu đoàn vệ binh.
Đoản đình thôi lại tràng đình,
990. Bên xe Mai Bích, Xuân sinh hai chàng.
Bắc, Nam ai kéo đôi đàng,
Ải quan ai khéo chia đường biệt ly.
Khi sao cửa các phòng khuê,
Giờ sao thui thủi một xe đất này.
Hồn mai tỉnh tỉnh say say.
Mới trong vài bữa xem rày mấy niên.
Trông xa, khi khoác rèm lên,
Vòng thành chát ngất, toà đền trai lơi.
Kiệu phu quì bẩm mấy lời:
1000. “Hàm đan huyện ấy có nơi trùng đài.”

Nàng truyền đóng lại nghỉ ngơi,
Lên đền dạo cảnh, xem chơi gọi là.
Huyện thành sắm sửa gần xa,
Đài vừa dọn sạch, nàng vừa xuống xe.
Hương đăng vừa đủ lễ nghi,
Tiện, nàng lên đấy lạy về gia hương.
Quan quân đóng chật huyện đường,
Một nàng Hạnh với hai chường cùng lên.
Từng từng đợt dưới, đợt trên,
1010. Ngẫm xem phong cảnh bốn bên trập trùng,
Cao cao thôi lại từng từng,
Trời như khổ thấp, đất bằng dường xa,
Bảo nhau rồi mới nhận ra,
Đông nam phương ấy, ấy là cố hương.
Xuân sinh đón biết ý nường,
Muốn điều từ biệt với chường Mai sinh.
Một mình bước xuống làm thinh,
Mặc ai trên ấy tự tình với ai.
Trông chàng nàng mới rỉ tai:
1020. “Trăm năm ghi tạc một lời từ đây.
“Bao nhiêu tình tự xưa nay,
“Tóc tơ giãi một chốn này là thôi!”
Mai sinh nhân lúc vắng người.
Gạt ngang nước mắt, bày lời trước sau:
“Nói càng như gợi cơn sầu,
“Trách vì phúc bạc xứng đâu má đào.
“Tấc lòng thề với trời cao,
“Quản chi trắng tóc, nỡ nào nối dây.
130. “Sẵn ngôi phi hậu dành ngày vinh hoa.
“Riêng ai trách lẫn trời già,
“Xe tơ sao khéo hững hờ cợt ai.”
Nàng rằng: “Lời dạy dường sai,
“Tấm thân đã phó cửa Mai những ngày.
“Sông dù cạn núi dù lay.
“Đã liền xương trắng dám thay lòng vàng.
“Đem thân đối với cương thường.
“Tạ lòng người cũ treo gương dưới đời.
“Mình nào sánh với tanh hôi?
1040. Mặt nào còn đứng cõi đời được ru!
“Khuyên chàng ghi nghĩa xuân thu,
“Mối tình hãy gác, nỗi thù chớ quên.
“Cùng em cho tiện sách đèn,
“Công danh gặp hội thanh niên đương vừa,
“Một mai lộc nước phấn vua,
“Danh mình cũng rạng, thù nhà cũng xong.
“Thân ai đành trọn chữ tòng,
“Suối vàng tươi mát, má hồng lây thơm.
“Rồi đây kẻ bắc, người nam,
1050. “Cành thoa xin tặng để làm của tin.
“Vật thường gọi chút làm duyên!”
Luật Đường mới ngụ một thiên giãi bày.
Trùng đài còn nhớ là đây,
Giã nhau gọi nhớ đến ngày biệt ly.
Mai sinh đôi giọt dầm dề,
Thoa thì chịu lấy, thơ thì Man phương.

Bâng khuâng lời ít tình nhiều,
Thị tì đâu đã dập dìu kéo lên.
Cùng nhau lạy trước đài tiền,
1060. Lần thang bước xuống, giục liền gióng xe.
Gia hương tình nặng bề bề,
Ải quan đâu đã gần kề tới nơi.
Tổng binh sửa chốn nghỉ ngơi,
Đảng công đã dạy cho mời cải trang.
Ngắm mình ra vẻ Man phương,
Xiêm tơi tả bức, áo lang lổ mùi.
Lông cài trên mũ một đôi,
Đổi hình khuê nữ ra người Yên chi.
Ngựa đâu kéo đến tức thì,
1070. Mai sinh gần đấy phù trì lên yên.
Hình dung ai vẽ cho nên,
Hương xa đã đổi mã yên bao giờ.
Hai chàng cảm nỗi gần xa,
Đều cùng đọc một câu thơ tiễn hành.

Lên yên nàng cũng gửi tình,
Đọc rồi mới giục hai sinh trở về.
Ngại ngùng thay, lúc phân kỳ,
Người về cố quốc, kẻ đi sa trường.
Người đồng thất, kẻ tha phương,
Hàng châu sùi sụt, bước đường chia đôi.
Nàng còn dặn với mấy lời:
1080. “Thù kia chớ để đội trời ở chung.
“Sao cho tâm lực hiệp đồng,
“M ổ gan nghịch tặc, thoả lòng nữ nhi”.
Xót người tú các hương khuê,
Mối tình ly biệt, đường đi phong trần.
Lạ tai mấy tiếng man nhân,
Giọng xa ríu rít giọng gần ét eo.
Bên trời phong cảnh đìu hiu,
Sương soi cỏ áy, gió reo cây già.
Sắc quân hiệu lệnh càng gia,
1090. Tiếng còi lư diệp, lá cờ ngô công.
Bước đường ngày một lạ lùng,
Tiểu thư ngày một đau lòng biệt ly.
Quen tài tức cảnh vịnh đề,
Trên yên mới vịnh cổ thi một bài.

Đương trường dặm ngựa ruổi mau,
Trông lên đã thấy miếu đâu gần gần.
Trên yên dạy hỏi thổ quân,
1120. Thưa rằng: “Miếu ấy Chiêu Quân một toà.
“Xuất thân từ thủa Hán gia,
“Quyết liều đến Hắc thuỷ hà trầm châu.
“Tiết trinh khôn đổi được đâu,
“Vóc thiêng ngược nước trở đầu về nam.
“Cõi này mến chút danh thơm,
“Dựng làm miếu vũ sớm hôm phụng thờ.
“Một phương bậc tối linh từ,
“Kể năm, ba bốn trăm thừa đã lâu.
“Oai linh đã khắp đâu đâu,
1130. “Kẻ xin cứu bệnh, người cầu chiêm bao.”
Tiểu thư nghe nói mừng sao,
Trước đền xuống ngựa, bước vào thử coi.
Nguy nga miếu mạo hẳn hoi,
Một toà thần tượng trên ngồi nghiễm nhiên
Oai linh vóc thánh, dáng tiên,
Lồng màn vẻ trắng, ánh đèn sắc tươi.
Son vàng mặt khảm tay ngai,
Lò trong ngát xạ, đỉnh ngoài bay hương,
Lạnh lùng bát ngát hơi dương,
1140. Nhìn qua rợn tóc, trông tường sởn gai,
Nữ đồng, võ sĩ đủ người.
Hầu trong hai ả, chầu ngoài tám viên.
Đồ thờ cắm giá án tiền,
Một bên bảo kiếm, một bên tỳ bà.
Tiểu thư lưỡng lự một giờ,
Sụp ngồi bốn lạy xa xa tự tình.
Khấn thầm thở ngọn, than ngành:
“Nỗi chồng oan uổng, nỗi mình truân chiên.
“Lầm người vì chước hoà Phiên,
1150. “Đem thân yểu diệu tới miền hôi tanh.
“Đánh liều bao quản tử sinh,
“Thề rằng quyết chẳng nhơ mình tiểu man.
“Thiêng chăng thu lấy hồn oan,
“Rộng cho chầu chực trước ban là nhờ!”
Khấn rồi nghỉ lại miếu thờ,
Đêm trường cho tiện đợi chờ chiêm bao.
Hay đâu mấy bộ Công tào,
Đã đem lời khấn tâu vào Chiêu Quân.
Phán rằng: “Mới thực hiền nhân,
1160. “Nặng bề sơn hải nhẹ thân yêu kiều.
“Bảng trời hôm nọ mới treo,
“Mai sinh tên đã giật lèo Trạng nguyên.
“Ngày sau phu phụ đoàn viên,
“Nay ta hãy cứu một phen mới là.”
Bèn ban nữ sứ bước ra,
Đòi hồn nàng lại, nhủ qua ân cần.
Rằng: “Ta là Hán Chiêu Quân,
“Cứu cho cũng dự phu nhân trinh thành.
“Rồi ra về đến quê mình,
1170. “sau đây phu quí phụ vinh vẹn tròn.
Dạy rồi phó trả thần hồn,
Lại đòi lực sĩ ôn tồn nhủ qua:
“Đón nàng khi sắp đầu hà,
“Đem về đại quốc vườn hoa Bá Phù.
“Người Trung châu, trả Trung châu,
“Mặc ai trọn nghĩa, báo thù mặc ai.”
Gió đâu lọt cánh cửa ngoài,
Tỉnh ra còn nhớ mấy lời chiêm bao.
Nghĩ ra nào biết đâu nào,
1180. Vững lòng khi dám chắc vào những đâu…
Án tiền ren rén cúi đầu,
Bước ra lại vịnh bốn câu lưu đề.

Lên yên gióng ngựa ra đi,
Núi cao đã thấy hầu kề tới nơi.
Hỏi tên là Lạc nhạn đài,
Trùm mây mờ mịt, nhất trời bông lông,
Nàng rằng: “Tích trước ghi lòng,
“Chiêu Quân gửi nhạn thư phong chốn này.
“Đường đi nhân tiện qua đây,
1190. “Nhắn chim, bắt chước chuyện ngày ấy chơi.”
Kíp truyền man tốt mấy lời,
Dọn đường núi nhạn, kíp dời gót loan.
Phò nàng ngồi kiệu đăng san
Hai nàng thị nữ, một đoàn phiên binh.
Bước cao bước thấp gập ghềnh,
Quăn queo đuôi chuột, chênh vênh tai mèo.
Nương đá quạnh, vịn cành oeo,
Chim xào xạc lá, vượn gieo rắc cành.
Sẵn sàng cảnh vật chung quanh,
1200. Phong đồn mở phạt, mây xanh buông màn.
Bước lên tuyệt đỉnh tàn tàn,
Trông dường chật đất, với toan đến trời.
Mặt sau lần bước len chơi,
Nhìn đâu bỗng thấy một nơi có đầm.
Mắt mèo trong vắt nổi tăm,
Rắn quằn quại khúc, mãng nhăm nhắp hàm.
Cheo leo sườn núi trông sang,
Khe kia suối nọ ngổn ngang mấy trùng.
Nửa ngày nổi trận âm phong.
1210. Phất phơ lật lá, lạnh lùng thấu xương.
Đất đâu sơn thuỷ lạ dường?
Ngẩn ngơ mình những cảm thương nỗi mình.
Xót thay đôi đức sinh thành,
Biết bao nguôi được chút tình nhớ thương.
Một ngày một ngả bóng tang,
Da mồi sạm mặt, tóc sương điểm đầu.
Biết nhau, thêm dở dang nhau,
Quen hơi bén tiếng bao lâu mà rằng!
Ấy ai chấp mối xích thằng,
1220. Biết mà dứt chỉ, thà đừng vương tơ.
Như lời thần mộng hoạ là,
Còn duyên chăng nữa, cũng chờ lai sinh.
Đường cùng giữ lấy thơm danh,
Thôi thì gác hiếu với tình một bên.
Chấp kinh, nếu chẳng tòng quyền,
Nữa khi nước đến, e nên cát lầm.
Tấc lòng cả quyết khôn cầm,
Tấm thân phó mặc dưới đầm sâu sâu.
Thị tỳ trông trước nhìn sau,
1230. Nàng đà gieo ngọc trầm châu bao giờ.
Ai ngờ ra sự chẳng ngờ,
Phiên binh nhớn nhác, nhớn nhơ một đoàn.
Bảo nhau sắp sẵn mưu gian,
Cải trang bắt lấy thuý hoàn để thay.
Miệng bình bưng kín ai hay.
Chăm chăm giục ngựa mấy ngày trẩy sang.
Hấp him thay nhẽ, Man vương,
Hững hờ nào biết rằng nường hay ai.
Thuý hoàn riêng được hẳn hoi,
1240. Đổi hình tỳ thiếp, thay ngôi phi tần.

Mới hay trời với giai nhân,
Được riêng chữ tiết, nắm phần chữ danh.
Làm cho chán nỗi thử thanh,
Trải bao nạn trước, mới dành phúc sau.
Tiểu thư từ xuống đầm sâu,
Hồng vân một đoá đón đâu nửa chừng,
Ào ào tiếng gió lay rừng,
Giữa trời vũ giá vân đằng đem đi.
Mấy lời thần mộng xa nghe:
1250. “Ta đây vâng mệnh đưa về Trung Hoa!”
Giờ lâu bỗng thấy chân sa,
Nhìn thôi mới rõ một toà danh viên.
Canh khuya văng vẳng bốn bên,
Thôi năn nỉ khóc, lại rền rĩ than.
Tỉnh mê riêng những bàn hoàn,
Nào non nước tá? uỷ! vườn tược đâu?
Chẳng hay là đất Trung châu,
Nhà quan Ngự sử là Châu Bá Phù.
Ông đương thượng lỵ Đông Đô,
1260. Để lưu con gái với phu nhân nhà.
Tiểu thư vả bậc tài hoa,
Khuê phòng tiểu tự gọi là Vân Anh.
Đốt hương vừa buổi đêm thanh,
Nghe đâu ti tỉ như hình tiếng ai.
Giờ lâu truyền gọi con đòi,
Soi đèn xem thử có người đâu đây.
Tiểu hoàn vâng lệnh ra ngay,
Soi xem bỗng rụng rời tay, trở về.
Rằng: “Người đâu của dị kỳ?
1270. “Đỉnh đầu lông hổ, vằn vè áo lưng.
“Ở đâu về đấy nhưng nhưng,
“Ấy rằng quỉ sứ, hay rằng hồ tinh!

Một nhà sào gậy xúm quanh,
Hạnh Nguyên mới bạch thực tình trước sau.
Thấy người phong điệu cửa hầu,
Dạy cho vào đến trước lầu hỏi han.
Hạnh Nguyên mới hỏi nguồn cơn:
Nỗi nhà tách bạch, nỗi oan rạch ròi
Hoà Phiên khi đến nước ngoài,
1280. Miếu thần ứng mộng, nhạn nhai gieo mình.
Phép thiêng cải tử hoàn sinh,
Ở hiền may gặp lại lành đến đây.
Phu nhân rằng: “Ấy mới hay,
“Thế gian cũng có sự này lạ ghê.
“Thần còn cứu kẻ nhân nghì,
“Dễ hầu người chẳng liệu bề xót nhau?
“Ở đây chẳng ngại chi đâu,
“Cho làm nghĩa nữ bạn hầu tiểu thư.
“Rồi sau nhắn bảo mẹ cha,
1290. “Trời cho khi dễ, hoạ là gặp nhau.”
Hạnh Nguyên vâng mệnh trước sau,
Sụp ngồi nàng mới gật đầu mấy phen.
Vân Anh từ được bạn hiền,
Yêu bên chữ sắc, trọng nhau chữ tài.
Hai người như thể một người,
Ngang tay tú các sánh vai lan phòng.
Dệt thêu, học lẫn nữ công,
Lúc chia hoa ướp, khi chung phấn giồi.
Hạnh Nguyên khi đứng khi ngồi,
1300. Khóc thầm trong vắng, gượng cười ngoài sân.

Nàng đà được chốn an thân,
Xót thay chàng Bích, chàng Xuân hai người.
Ai quan chân chửa kịp dời,
Mã bài đã có chỉ đòi Đảng công.
Chẳng ngờ Lư Kỷ tấu trong,
Thiên lao đã bắt vợ chồng Đông Sơ.
Hai chàng còn tiễn tiểu thư,
Cũng ban mật chỉ truyền cho bắt về.
Đảng công chống chế mọi bề,
1310. Cấp thêm hành lý giục đi lánh mình.
Cùng nhau hai gã thư sinh,
Ngẩn ngơ quê khách, gập ghềnh đất xa.
Trời hôm xế bóng tà tà,
Côn quang đâu bỗng gặp ba bốn người.
Lòng tham còn biết thương ai,
Cướp hành lý hết, áo ngoài sạch không.
Tạm ngồi trước miếu bên sông,
Thuyền quan nghe có thùng thùng trống canh.
Nghi cho là kẻ gian tình,
1320. Nghe hơi kéo một đạo binh lên bờ.
Xuân sinh kíp lánh đường xa,
Bắt liền Mai Bích mới đưa xuống thuyền.

Chàng bèn cất mặt trông lên,
Thấy trong khoang giữa, ngồi nền một ông.
Mấy lời sang sảng tiếng đồng:
“Tên kia sao dám cả lòng mưu gian?”
Sinh rằng: “Đâu dám to gan,
“Đèn trời xin thấu nỗi oan cho người.
“Tôi cùng người bạn anh tôi,
1330. “Tìm người thân thích lạc loài đến đây.
“Nào ngờ gặp sự chẳng may,
“Dám xin xét tấm lòng ngay được nhờ.”
Ông xem ra dáng con nhà,
Truyền đem nghiên bút thử và câu chơi.
Chàng vâng lĩnh bút đề bài,
Viết xong Chế nghệ một bài nộp đi.
Ông rằng: “Nhục nhỡn nan tri,
“Thứ cho thì chớ, dù chê dám nài.
“Bước lên xin hãy tạm ngồi,
1340. “Áo đưa một cặp, ngắn dài quản chi.
“Họ tên sao đấy? Ở quê xa gần?”
Dằn lòng, sinh những ngại ngần,
Giả danh rồi sẽ nghe dần về sau.
Thưa rằng: “Xin kể gót đầu,
“Tên Vinh họ Mục, Thường Châu là nhà.”
Ông rằng: “Quê đấy chẳng xa,
“Có quen Mai thị cùng là ai không?
Sinh rằng: “Cùng ở môt vùng,
1350. “Bạn bè cũng biết có công tử chàng.
“Từ khi gặp biến phi thường,
“Chẳng hay đâu đấy tìm phương lánh mình.
“Tôi nay vâng đẹp duyên bình,,
“Xin tường quí tính, đại danh, được nhờ.”
Ông rằng: “Cũng chẳng đâu xa,
“Ở Giang nam tỉnh, tên là Lạc Thiên.
“Cách quan về việc bình Phiên,,
“Rày vâng khai phục, ra miền Ngọc kinh.”
Đêm khuya trống đã sang canh,
1360. Truyền đem gối đệm, nghỉ mình khoang trong.
Mấy tuần thuận bến xuôi giòng,
Mui bồng trăng tối, buồm dòng gió trưa.
Quan lão luyện, khách tài hoa,
Cuộc cờ trên lái, đường tơ dưới lèo.
Mây buổi sớm, nước ban chiều,
Thơ ngâm ngoài mạn, rượu kèo trong khoang.
Kinh thành mong mỏi tấc gang,
Chìu lòng nước cũng bằng dường như tên.

Bỗng đâu một chiếc kề bên,
1370. Hỏi ra mới biết là thuyền Châu công.
Gặp nhau kể hết sự lòng,
Họ Châu môn đệ họ Phùng ân sư.
Châu công rằng: “Lẽ gọi là,
“Kính dâng một lễ, gọi đưa tấc thành.
“Hà namvâng mệnh tuần hành,
“Một phương xích tử triều đình trong tay.
“Những là lo lắng đêm ngày,
“Dưới màn ai kẻ đỡ thay tờ bồi.
“Ân sư liên hữu có ai,
1380. “Môn sinh xin được một người là may!”
Phùng công rằng: “Đã sẵn đây!
“Mục Vinh gặp mấy buổi nay cũng kỳ.
“Văn chương tài mạo ai bì,
“Có chăng là một chữ “thì” kém ta.
“Cánh bằng khi gặp gió xa,
“Tung mây chưa biết lên đà đến đâu,
“Nhân duyên may gặp được nhau,
“Việc nha xem đỡ, ta sau sá gì.”
Hai ông trò chuyện dã dề,
1390. Mới đem họ Mục đưa về Châu công.
Của đưa gọi chút lấy lòng,
Một hòm tân phục, hai phong nhật trình
Tiễn rồi lại dặn Mục Vinh:
“Trượng phu xin chớ quản tình biệt ly.”
Yên xong trở mũi thuyền đi,
Kẻ thì phó lỵ người thì tiến kinh.

Thương thay còn một Xuân sinh,
Liền đêm hôm ấy lánh mình xa xa.
Sáng ngày thức dậy nhớ ra,
1400. Sơn đông quen một người là Thái Câu.
Xưa từng lỵ phủ Nhiêu châu,
Cách quan nghe mấy năm sau ở nhà.
Hỏi thăm tìm đến hỏi qua,
Cửa ngoài đã thấy có tờ biên phong.
Cũng vì Lư Kỷ, Hoàng Tung,
Chứng cho một án giao thông giặc ngoài.
Xuân sinh thấy sự kíp dời,
Một mình mặt đất, chân trời bơ vơ.
Than rằng thung cỗi huyên già,
1410. Thiên lao biết có bao giờ biện oan.
Người tuổi tác, khách cô đan
Để ai tan nghé, rẽ đàn vì ai?
Xót ai thui thủi phương trời,
Hồng nhan khi đã ra người cửu nguyên.
Hiếu tình đeo nặng hai bên,
Dặn dò những chắc chu tuyền có ta,
“Mai kha ơi, hỡi Mai kha,
“Rời nhau một bước nên xa mấy trùng.
Một đêm sương tuyết lạnh lùng
1420. “Khỏi chăng? hay đã mắc vòng trần ai?
“Thương thay trung nghĩa mấy người,
“Kẻ thì oan thác người nơi ngục hình.
“Trách vua Đường, ở bất minh,
“Dung bên gian đảng mà khinh hiền tài.”
Bên lòng trăm mối bời bời,
Trông ra một nước một trời mênh mông.

Tử sinh xem nhẹ lông hồng,
Quyết liều, sinh đã gieo sông bao giờ.
Hay đâu khéo cũng may mà,
1430. Gần đâu đấy, có ngư gia đóng thuyền.
Giăng chài vớt được chàng lên,
Tỉnh dần, trông rõ hai bên ngồi nhìn.
Trẻ già một lũ cạn khan,
Đầu cành cạch tóc, mình nhờn nhợt da.
Ngồi bên thuyền chủ một bà,
Kề bên một ả mặt hoa tót vời.
Ngồi trông ra rõ mặt người,
Thương ôi! sao nỡ bỏ hoài tuổi xanh!
Ở đâu mà đến chài mình,
1440. Hãy còn im ỉm khí sinh lạ đời.
Thay quần đổi áo tơi bời,
Ngư bà mới hỏi mấy lời trước sau:
“Chẳng hay quê, họ nơi đâu?
“Gặp nhau xin tỏ cho nhau biết cùng
“Làm sao mà phải gieo sông?
“Hay là tội lệ cát hung thế nào?”
Xuân sinh mới kể gót đầu:
“Quê tôi ở huyện Thường Châu cũng gần.
“Cha làm quan, họ là Trần,
1450. “Chẳng may mắc phải gian thần vu oan,
“Tâu vua bắt chị hoà Man,
“Thiên lao lại bắt thung đường phó giam.
Tôi tiễn chị tôi xuất quan,
“Bỗng nghe mật chỉ sai quan nã về.
“Vậy nên tôi phải lánh đi,
“Chẳng may gặp lũ gian phi giữa đường.
“Than ôi! đương hợp mà tan,
“Một mình tránh khỏi nguy nàn tới đây.
“Cả liều nào quản vơi đầy,
1460. Phúc sao, may khéo là may, gặp người.”

Ngư bà nghe bấy nhiêu lời,
Nhủ rằng: “Thôi cũng có trời chẳng không!
“Năm xưa vớt được giữa dòng,
“Một hòm âm ấp những vòng với thoa.
“Khen thầy nó dặn lão bà,
“Để cho con gái tên là Ngọc Thư.
“Gặp ông thầy số năm xưa,
“Đoán cung mệnh cháu khen bà phu nhân.
“Gạo công, đòi đủ trăm cân,
1470. “Khen đi, khen lại phu nhân khác thường,
“Bây giờ may vớt được chường.
“Mà xem tướng mạo đường đường dáng quan.
“Hẳn rằng thiên địa tuần hoàn,
“Mà cho chàng lại trôi ngang vào chài.
“Nên nay lại vớt được người,
“Hai phen vớt được một đôi rõ ràng.
“Thôi đừng quản thiệt tham hơn,
“Băn khoăn kén cá, phàn nàn chọn canh.
“Ngọc Thư cho két duyên lành,
1480. “Hoạ là phu quí phụ vinh kịp ngày.
“Được như số đoán là may,
“Vong hồn cũng thoả đến thầy nó xưa.”
Xuân sinh nghĩ đã chót nhờ,
Vả xem phong dạng Ngọc Thư ra tuồng.
Thưa rằng: “Chút phận tha hương,
“Đã thương yêu đến, dám ruồng rẫy ru!
“Xin vâng, nhưng hãy xin chờ,
“Bảng vàng rồi sẽ đuốc hoa cũng vừa.”
Bà mừng, kíp gọi Ngọc Thư,
1490. Một lời đã định phải ra chào mời.
Thẹn thùng lững thững chân dời,
Nàng e còn đứng, chàng coi đã tường.
Quả nhiên nhan sắc dị thường,
Mai hình tú bộkhác thường ngư gia.
Khi vui nảy phút hứng thừa,
Khen thầm trong bụng nên thơ một bài.
Thấy chàng, nàng cũng mừng vui,
Dáng người thanh thú, vẻ người văn chương.
Chắc rằng có phận giàu sang,
1500. Hứng lòng cũng ngụ luật Đường bốn câu.
Dần dà quen thuộc bấy lâu,
Mới hay nương tử họ Châu ấy là.
Nực cười thay! thú ngư gia,
Sớm qua Tầm thuỷ, tối về Hàn san.
Ca chèo, nhịp nhặt, nhịp khoan,
Trăng lòn sau lái, gió đàn trước song.
Bốn mùa mặt nước sinh nhai,
Lưỡi câu, sợi chỉ, tay chài mặt sông.
Mặc ai danh lợi trong vòng,
Xiêm vằn vặn lưới, đai long lỏng thừng,
Thoi đưa nấn ná ba đông,
1510. Trải phần đông quí, sang chừng xuân qua.
Tết trung náo nức gần xa,
Neo thuyền giặt lưới, giăng bè dựng nêu.
Ngư bà mới bảo Ngọc Kiều,
Mượn điềm bói cá thay gieo tú cầu:
“Lưới này như được cá đầu,
“Duyên con thì định xuân sau kén ngày.
“Ví bằng ba lưới không tay,
“Thành thân thong thả sau này sẽ hay.”
Bàn rồi chia việc làm ngay,
1520. Kẻ buông tay lưới, người gay cột chèo.
Cầm sào chàng cũng đẩy theo,
Ngọc Thư đỡ lấy có chiều lần khân.
Lạ gì đôi lứa vừa xuân,
Ai hay rơm bén, lửa gần với nhau?
Ngư bà liếc thấy vừa hai,
Nghĩ thầm chuyện ấy có người, có ta!
Người yểu điệu, kẻ tài hoa,
Khi vào sát áo, khi ra chạm quần.
Nghe nặng lưới, kẻo lên dần,
1530. Lý ngư đâu đấy trần trần một đôi.
Sinh rằng: “Ăn những ngồi rồi,
Này xin đem bán chợ chơi một lần”
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà cho trải với thế nhân đủ điều.

Chàng vừa đi khỏi chợ chiều.
Thuyền ai đâu đã ghé chèo tới nơi.
Trên mui ngồi tốt một người,
Nghênh ngang dáng cậu, nói cười giọng quan.
Một thuyền vâng dạ đã rân,
1540. Tiểu hầu, đầy tớ một đoàn như rươi.
Khoe khoang một tấc đến trời,
Quần hồ sột soạt, áo mồi trai lơ.
Trông sang nhác thấy Ngọc Thư,
Xúm quang, rắn ếch, bướm hoa, động lòng.
Đặt ra một mẹo hư không,
Bạc năm mươi lạng một phong sẵn sàng.
Giao cho đầy tớ đưa sang,
Mua làm tiểu thiếp, mong đường ép duyên.
Thuận lòng bao quản sang hèn,
1550. Tam bành bà đã nổi lên một hồi.
Ngọc Thư ngấm nguýt một hai,
Trong khi quá giận, lắm lời sam sưa.
Khuyển, Ưng một lũ mắt đưa,
Để phong bạc, bắt Ngọc Thư đem về.
TIếng nàng kêu dậy giang khê,
Một đoàn thuyền hộ kéo bè la om.
Vác sào quơ gậy ỳ òm,
Lao xao nổi tép nổi tôm một vùng.
Lời thô tiếng tục như ong,
1560. Kẻ toan cướp lại, người hòng đánh nhau.
Bàn dày, bàn mỏng giờ lâu,
Xuân sinh trong chợ may đâu vừa về
Can rằng: “Xin hãy im đi,
“Khôn không qua lẽ, phép thì có quan.”
Bảo nhau tìm chốn kêu oan.
Giắt theo chứng tá, một đoàn ngư nhân.
Bước đi bóng đã xế dần,
Nửa đường gặp lũ quan quân dài dài.
Đèn lồng trước kiệu hàng hai,
1570. Hiệu đèn Đề đốcchữ nhồi nét son.
Giữa đường quì xuống kêu dồn.
Nghe truyền dừng kiệu, ôn tồn hỏi tra.
Thưa rằng: “Chút phận ngư gia,
“Gặp chàng công tử, họ là họ Giang.
“Khinh người hèn, cậy mình sang.
“Lấy điều thân thế, toan đường hiếp ai.
“Kề thuyền cướp lấy vợ người,
“Chuyện này, muôn đợi đèn trời xét cho.
“Cao minh xin thứ dân ngu,
1580. “Vội vàng kêu miệng, nào lo kịp tờ.”
Lệnh quan một tiếng truyền ra:
“Con quan quen ỷ thế cha, cũng thường.
“Tên này phong dạng ra tuồng,
“Nhìn xem chưa hẳn là phường ngư gia!”
Kịp truyền tới bến đại hà.
Bắt Giang công tửvề nha tức thì.
Nguyên đơn cũng bắt đem về,
Kiệu đi một lúc đã kề đại doanh
Hiên mônvẽ hổ trước bình,
1590. Giáo thăm thẳm dóng, quân sình sịch hơi.
Thung dung xuống kiệu sảnh ngoài,
Tiếng loa thị sự, hồi còi thu quân
Hầu bên hai dãy biền thân,
Nệm trăm trắm trải, nến rần rật giong (chong).
Ngậm tăm lặng ngắt như không,
Trại ngoài điểm trống, dinh trong đóng kèn.
Một vòng quân khảo như nêm
Hàng giăng giá nọc, chật lèn túi roi.
Giao canh trống mới sang hai,
1600. Phạm tù đã thấy lôi thôi điệu về.
Giang Khôi dường cũng khiếp uy.
Liếc trông mặt sắtlặng nghe tiếng đồng.
Quở rằng: “Cậy thế thị hùng,
“Ra ngoài văn pháp vào trong dâm tà.
“Án này cứ miệng ngư gia,
“Phỏng như tội ấy, nghĩ đà đáng chưa?”
Kiên gan Khôi cũng lôi la,
Rằng mua rằng bán, rằng lừa trăm khoanh.
Rồi ra chứng tá phân minh,
1610. Dường cưng cứng lưỡi, dường quanh quẩn lời.
Quan môn biết sự chẳng sai,
Lấy điều nhỏ nhặt truyền đòi Ngọc Thư.
Hỏi ra mới biết rằng là:
“Liễu dù gặp gió, sen chưa nhuốm bùn!”
Đòi Giang tri phủ quở dồn:
“Khen làm dân mục dung con bất tài.
“Mắt trông tay trỏ đủ mười,
“Phép vua khôn thứ, miệng người khôn che.
“Tội con phạt bốn mươi bê,
1620. “Cha đà biết tội tha về lượng cho.
“Nguyên đơn một lũ họ Châu,
“Chờ mai thẩm lại mới hồ tha xong.”
Truyền cho ở lại nha phòng,
Sáng mai sẽ hỏi xem trong tình đầu.

Ai hay sự bởi vì đâu,
Quan Đề đốc ấy, họ Khâu gọi là.
Hiếm hoi mới được mộng xà,
Vân Tiên một gái mặt hoa khuynh thành.
Cũng trong họ Mạc chung quanh,
1630. Vốn là cậu ruột Mai sinh đấy mà!
Từ khi khởi nạn Mai gia,
Phu nhân sang đó nương nhờ bấy lâu.
Cách đêm vừa sáng hôm sau,
Buông rèm hỏi lũ họ Châu xem tình.
Ngư bà đâu dám giấu quanh,
Mới đem sự tích Xuân sinh kể bày.
Sốt lòng ông mới dạy ngay,
Hãy đem tên rể vào đây hỏi tường.
Xuân sinh thấy sự rõ ràng,
1640. Bấy giờ chàng kể nỗi chàng đầu đuôi:
Từ khi gặp gỡ họ Mai,
Khi toan xe chỉ, khi đòi xuất quan.
Khi lánh nạn, lúc nghe oan,
Cùng Mai sinh, nỗi hợp tan mấy lần.
Chàng vừa kể hết xa gần,
Mai phu nhân bỗng khóc lăn dưới thềm,
Cầm tay chàng mới nhìn xem một giờ.
Dạy rằng: “Gang tấc nên xa,
1650. Thế mà già vẫn còn ngờ rằng ai!”
Khâu công rằng: “Hãy khoan thai,
“Dám xin mời cả vào ngồi nhà trong.
“Thay quần đổi áo yên xong,
“Rồi ta sẽ kể sự lòng với nhau.”
Ngư bà chưa rõ gót đầu,
Thôi bâng khuâng nghĩ, lại chầu hầu trông:
“Uỷ, sao nhà kiện, cửa công,
“Ra tình nhìn nhận, ra lòng yêu thân?
“Thư phòng rót chén tẩy trần.
1660. Một ông với một chàng Xuân bàn hoàn,
Kể lòng mấy chuyện hợp tan,
Nhà trong cũng mở một bàn tiệc hoa.
Ngôi trên dường tuổi Ngư bà.
Hai phu nhân với tiểu thư hai người.
Nhìn lâu ngợp mắt làng chài,
Mâm vàng chồng chất, chén mồi đầy vơi.
Hải vị tốt, yến sào tươi,
Khác màu nấu chuội, khác mùi hơ qua.
Vả trong bồi tiếp việc hoa,
1670. Hai nàng tiên nữ, hai bà phu nhân.
Mừng thầm con đã yên thân,
Gẫm lời thầy số mười phần chẳng sai.
Khâu công xong tiệc rượu ngoài,
Mai phu nhân mới rỉ tai vài lời:
“Nghĩ rằng cậu mợ hiếm hoi,
“Điềm hùngchưa ứng, chúc trai muộn màng.
“Nay xem công tử họ Trần,
“Khôi ngô vẻ mặt, đai cân dấu nhà.
“Tòng quyền cho nghĩ nương nhờ,
1680. Minh linh rồi sẽ đổi ra đông sàng.
Bàn rồi bèn giục giã chàng,
Thung dung trước mặt, gia nương khấu đầu.
Vâng lời theo họ là Khâu,
Tên là Khôi, để từ sau gọi thường.
Còn ngư bà với Ngọc nương,
Cũng cho nhìn nhận trong đường thân hơi.
Ngư bà xin tới bến ngoài,
Tìm người phường bạn, giã lời với nhau,
Ông truyền sắp kiệu theo hầu,
1690. Rập rình gươm trước, ngựa sau ra tuồng.
Ngồi trong ghé ngửa nom ngang,
Phút đâu kiệu đã tới phường bến xưa.
Vội vàng bước xuống thuyền nhà,
Kẻ quen người thuộc còn ngờ rằng ai.
Giờ lâu nhìn rõ mặt người,
Nọ người khoác nách, nọ người vỗ tay.
Hỏi săn hỏi đón đã đầy,
Kiệu làm sao đấy? kiệu này của ai?
Bà rằng: “Kiện cáo gì tôi,
1700. “Này này! anh nó vào ngồi với quan!
“Từ rày phường bạn đừng nhờn,
“Đủ trăm văn lý, dư muôn thế trần!
Giang Khôi rày hẳn biết thân.
“Hôm xưa thầy tớ một sân chịu đòn.
“Kẻo còn bắt những gầu non,
“Kẻo còn hống hách, kẻo còn doạ hơi.”
Cùng nhau từ giả mấy lời,
Lại ngồi lên kiệu, kíp dời về dinh.

Khâu Khôi yên phận đã đành,
1710. Đường xa này chuyện Mục Vinh còn dài.
Phủ Châu nương náu cửa người,
Án tờ xem đỡ, văn bài tập riêng.
Tài mẫn tiệp, tính thông miêng,
Phần chăm việc khách, phần siêng việc mình.
Há nam một tỉnh chính thanh,
Châu công biết sức, thêm tình yêu đương.
Nghĩ mình có gái Vân nương,
Quyết lòng đành rắp đông sàng đợi ai.
Xa nhà chưa dám ngỏ lời,
1720. Tin đâu đã có chỉ đòi lai Kinh.
Tỏ tin, bàn với Mục Vinh:
Khuyên chàng về phủ Đại danhquê nhà.
Băn khoăn muôn dặm đường xa,
Tư thư mới gửi cho bà phu nhân.
Trong thư mọi nỗi xa gần,
Dặn dò lấy lễ sư tânđãi chàng.
Đinh ninh một việc đông sàng,
Chuyện riêng lại phụ mấy hàng dặn sau.
Mục Vinh sắm sửa quân hầu,
1730. Trỏ đường tư thất họ Châu trở về.
Tay cung, thanh quất, cây tỳ,
Ngao du sơn thuỷ, đề huề gió trăng.
Hề đồng theo bốn năm thằng,
Thơ ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu.
Đường xa giong ruổi vó câu,
Thoắt đà tới phủ họ Châu bao giờ.
Phu nhân biết ý trong tờ,
Tình riêng đâu dám hững hờ như ai.
Riêng mình chàng, một thư trai,
1740. Đồ cung cấp hậu, vẻ bài trí thanh.
Cổ thư, cổ hoạ, buông tranh,
Bên giường triện bách, trước bình phong lan.
Giá bày túi sách cạp đàn,
Sẵn hiên ngoạn nguyệt, sẵn vườn thưởng hoa.

Phòng riêng ngày tháng lân la,
Khi buồn mới giở chiếc thoa ra nhìn.
Càng đau đớn nỗi Hạnh Nguyên,
Nhớ câu thơ biệt ở trên trùng đài.
Sẵn nghiên bút, vẽ ra chơi,
1750. Vừa buông tay viết, chẳng rời miệng ngâm.
Càng như khêu mối khổ tâm,
Giấy loè nét tủi, nghiên dầm giọt thương.
Hay đâu đầy tớ Vân nương,
Liễu hoàn một ả Xuân Hương tinh đời.
Thói thường dòm liếc thư trai,
Gặp chàng vào lúc nhớ người, xem thoa.
Trở về tấp tểnh, tấp ta,
Thày lay mách ả Vân ta mấy lời:
Rằng: “Tướng công ở nhà ngoài,
1760. “Thình lình lắm lúc, tôi coi cũng kỳ,
“Tay cầm chẳng biết việc gì,
“Mắt thì nhìn kỹ, mặt thì buồn tênh.
“Kỳ này ra khổ thất tình,
“Kém nhan sắc trước, khác hình thù xưa.
“Tôi lừa khi vắng lẻn ra,
“Chỗ ngồi bắt được cái thoa lạ đời”
Vân Anh xem của nghe lời,
Gẫm tay này hẳn có người tình chung.
Thoa này ai dễ cho không.
1770. Dễ hầu biết mặt tin lòng được ai?
Mục Vinh phải buổi ra ngoài,
Về xem hòm sách tơi bời giở tung.
Thấy khác dấu, đã chột lòng,
Xem cành thoa ấy lại không thấy rồi.
Khóc than vật vã một hồi,
Trách mình lơ đễnh, giận người tham lam.
Nghĩ rằng kẻ bắc người nam,
Chắc còn thoa ấy, để làm duyên sau.
Gẫm duyên mỏng mảnh vì đâu,
1780. Tỉ ti vật mọn cũng hầu tìm đi.
Bệnh đâu dắt đến tức thì,
Cơm hoa biếng nhắp, giấc hoè kém yên.
Chiêm bao mê mẩn liền liền,
Trùng đài trước mặt, Hạnh Nguyên bên mình.
Phu nhân những hậu vì tình,
Mời thầy thuốc, cắt đồng sinh giữ gìn.

Nỗi ngoài họ Mục chưa yên,
Não người, còn nỗi Hạnh Nguyên trong nhà.
Phải khi ngồi với Vân thư,
1790. Thấy cành thoa ấy chân hư rành rành.
Giờ lâu nhìn dấu của mình,
Trùng đài lưu tặng Mai sinh những ngày.
Người đâu mà của thấy đây?
Hẳn rằng bóng hạc xe mây đã đành.
Duyên này đã hẳn ba sinh,
Gặp nhau đành giữ chung tình kiếp sau.
Tấm thương chẳng đánh mà đau,
Lan sương biếng kẻ, mai câu biếng giồi.
Tấc riêng riêng những ngậm ngùi,
1800. Bữa thường miệng đắng, đêm dài bóng chung.

Phu nhân rối tợ bồng bong,
Khuê phòng ép thuốc, thư phòng nài thang.
Dạy mua hai cỗ thọ đường,
Phòng khi nhất đán phi thường cho ai!
Bỗng đâu một lúc tơi bời,
Nỗi trong nhộn nhịp, nỗi ngoài dở dang.
Liễu hoàn nối gót thư đường,
Thấy hai phương cũng hung phương một giờ.
Phu nhân ghé hỏi sau xưa,
1810. Gọi lên đã thấy tiểu thư tỉnh dần.
Thưa rằng: “Lưu lạc chút thân,
“Bao dong kể đã đội ân nghìn trùng.
“Hay đâu số phận mỏng manh,
“Xưa nay mệnh bạc chữ chung má đào.
“Phòng khi muôn một thế nào,
“Xin ba tấc đất để vào hướng nam.
“Con dù chín suối cũng thơm,
“Bấy lâu công đức đã cam phụ người.”
Phu nhân khuyên giải mấy lời,
1820. Cùng Vân Thư tới nhà ngoài thăm lênh.
Kề tai mấy tiếng gọi sinh,
Vừa lim lỉm giấc, thoắt tinh tỉnh dần.
Xuân Hương trình trước phòng văn:
“Tiểu thư vâng mệnh phu nhân trong phòng.
“Ra đây thăm bệnh tướng công,
“Dám xin gượng kẻo bỏ lòng chủ nhân.”
Sinh rằng: “Chút phận gia thần,
Ân lòng đãi lễ sư tân bấy chầy.
“Những mong báo đáp có ngày,
1830. “Ai ngờ nên nỗi nước này như không?
“Vẻ chi thân nhẹ lông hồng,
“Thăm lênh để nặng tấm lòng tiểu thư.
“Dù khi giải kết bao giờ,
“Phong phần chính bắc xin nhờ ghi cho.”

Bên giường mấy nỗi dặn dò,
Phu nhân nghĩ ngợi thêm hồ nghi ra.
Cùng nhau bàn mảnh trong nhà,
Xuân Hương mách lẻo trình bà phu nhân:
“Chuyện này xin chớ ngại ngần,
1840. “Tôi đà tỏ hết nỗi gần nỗi xa.
“Cũng vì có một chiếc thoa,
“Kẻ bâng khuâng nhớ, người ngờ ngẫn thương.
“Hai phòng bệnh cũng một đường,
“Mê rồi lại tỉnh, mơ màng lăng nhăng.
“Vả xem những tiếng trối trăng,
“Kẻ rằng chính bắc, người rằng chính nam.
“Chuyện này để vậy chưa cam,
“Xin dò nhắc lại xem làm sao đây.”
Theo Vân thư mới đi ngay,
1850. Phen này quyết tỏ lòng này cho ai.
Lẳng lơ đứng trước thư trai,
Đem thơ tiễn biệt Trùng đài đọc chơi.
Mục Vinh nghe vẳng bên tai,
Bằng dường xét đánh lưng trời bỗng đâu.
Gọi vào, hỏi trước, hỏi sau,
Mỉm cười, Hương mới kể đầu, kể đuôi.
Nỗi nàng mách hết rạch ròi:
“Khi thần đưa đến, khi người bắt nuôi.
“Trộm thoa, tội ấy về tôi,
1860. “Khiến trong nhìn nhận, để ngoài xót xa.
“Mấy câu tôi đọc bây giờ,
“Thơ này bắt được với thoa một lần.
“Làm khuây, xin hãy tỉnh dần
“Đã đành tài tử, giai nhân một nhà.
“Vả ông tôi dặn trong tờ,
“Đinh ninh dành gả tiểu thư cho chàng,
“Bây giờ gặp nghĩa cũ càng,
“Chẳng hay duyên mới có mang mể cùng?”
Sinh rằng: “Muôn đội ơn lòng,
1870. “Nỗi bà trân trọng, nỗi ông yêu vì.
“Ví bằng được hẳn thế thì,
“Duyên sau nghĩa trước, hai bề vẹn hai.”
Bỗng như nói nói, cười cười,
Mười phần bệnh, phỏng còn vài bốn phân,
Xuân Hương tức tốc dời chân,
Tình đầu bạch với phu nhân bấy giờ.
Lại vào bảo thực Hạnh thư:
“Mục Vinh ngoài ấy, ấy là Mai sinh.”
Hạnh Nguyên nghe rõ thực tình,
1880. Cất quang quảng bệnh, nhẹ thênh thểnh người.

Cho hay những bậc sắc tài,
Thảm vì tình lắm, lại vui vì tình.
Phu nhân chọn được ngày lành,
Mới truyền dọn dẹp, mời sinh vội vàng.
Sửa sang cuộc rượu hai bàn,
Cách rèm làm lễ truy hoanmột nhà.
Hạnh Nguyên quốc phục như xưa,
Khoác mành mành, mới bước ra hỏi chàng.
Rõ mười còn tưởng mơ màng,
1890. Mừng mừng, tủi tủi, khóc than một hồi.
Khóc rồi kể lể đầu đuôi:
Nỗi trên núi nhạn, chuyện ngoài ải mây.
Chết thừa sống thiếu là may,
Bên kia quan gặp, bên này thần đưa.
Bèo trôi, sóng vỗ đến giờ,
Kẻ sang Châu phủ, người nhờ Phùng công.
Biết bao nhiêu chuyện đau lòng,
Xuân sinh lưu lạc, Sơn đông cách vời.
Một phen nói, một bồi hồi,
1900. Bâng khuâng cố quậnngậm ngùi thiên lao.
Phu nhân khuyên giải thấp cao,
Cùng thôi nước mắt lại vào tiệc hoa.

Tin Kinh bỗng thấy đưa ra:
Châu công thăng chức hiệu là Thị lang.
Chỉ ban về lễ từ đường,
Chàng ra mười dặm đình trường đón xa.
Ngó trông rợp bóng quan hà,
Thẻ bài phụng chỉ ngọn cờ vinh hương.
Giáp nhau ông đã gặp chường,
1910. Song song đôi ngựa trỏ đường cố gia.
Thu quân hồi trống vào nhà,
Trên yên vách phấn, cắm cờ giá son.
Vào trong thong thả ôn tồn,
Một nhà thầy, tớ, vợ, con lạy mừng.
Trong nhà nhộn nhịp, tưng bừng,
Âm thầm thiều nhạc, lẫy lừng tiệc hoa.
Phu nhân giả cách lơ mơ,
Truyền đòi đệ nhất tiểu thư ra hầu.
Ông rằng: “Khéo lẽ dối nhau,
1920. “Hiếm hoi một gái lấy đâu nhất nhì?”
Hạnh Nguyên ra trước lạy quì,
Nỗi nàng bà kể mọi bề gian truân:
“Nghĩ rằng xa, chẳng là gần,
“Ai hay con gái bác Trần Đông Sơ!
“Tơ đào nghĩ những bao giờ,
“Nhân duyên sớm định về nhà họ Mai.
“Hôm xưa lắm chuyện nực cười,
“Kẻ trong nhận của, người ngoài mất thoa.
“Hai buồng gang tấc nên xa,
1930. “Thất tình bệnh đã hoá ra mấy ngày.
“Tỏ ra mười mấy hôm nay,
“Bên kia nhận vợ, bên nây nhận chồng.”
Ông nghe thấu hết sự lòng,
Cả cười, mới dạy rằng: “Trong đạo trời.
“May ta gặp cả hoà hai,
“Trọn tình bè bạn, được người thi thư.
“Nghĩ chăng, dở một nỗi nhà,
“Tính vào thế ấy, hoá ra thế này!”
Bà rằng: “Tôi cũng nghĩ đây,
1940. “Xưa nay đôi quả một tay cũng nhiều.
“Vả trong hai ả tiểu kiều,
“Mười phần xem đã kính yêu cả mười.
“Bấy nay hình ảnh chẳng rời,
“Thờ chung quân tử một người cũng nên.
“Mai sinh nghĩa cả chưa đền,
“Phỏng chừng ép uổng cũng nên một lòng.”
Châu công nghe nói thỉ chung,
Liền ra tiệc ngọc thư phòng với sinh.
Lòng chàng nghe đã tỏ tình,
1950. Lẽ nào giấu quẩn giấu quanh được rày!
Thưa rằng: “Chút phận hèn ngây,
“Bấy nay giả dối, tội rày đã cam.”
Ông rằng việc tỉnh Hà nam,
“Bấy lâu cậy một tay làm biết bao?
“Kinh luân đã tỏ tài cao,
“Thớ cong, rễ quánh, thủ dao long tuyền.
“Hiếm hoi chút gái vụng hèn,
“Nâng khăn sửa túi, xin yên phận nhờ.”
Sinh rằng: “Nguyệt lão xe tơ,
1960. “Nhân duyên đã định Trần gianhững ngày,
“Làm chi bể ái vơi đầy,
“Hạ đườngdám luỵ, tiếng này đến ai?
“Vả con hổ phận bất tài,
“Tấc lòng e chửa xứng ngôi đông sàng.”
Ông rằng: “Thôi chớ rẫy ruồng,
“Nhà Ngu xưa có Nga Hoàng, Nữ Anh.
“Trượng phu dù quyết hẹp tình.
“Thẹn thay phụ tấm lòng thành lão nô.”
Chàng nghe lạy trước thềm hoa,
1970. Xưa còn gia khách nay ra thân tình.

Phần 5: Trừng trị kẻ lộng thần

Nhà vua xử tội bè lũ Lưu Kỷ và Hoàng Trung, phong thưởng cho Mai Lương Ngọc và Trần Xuân Sinh (con của Trần Đông Sơ).

Năm mây nghe chiếu rành rành,
Thi hương, thi hội, thi đình một phen.
Bàn rồi dường lẽ chưa yên,
Chấp kinh cứ thực họ tên sao đành.
Sổ dâng quán chỉ đại danh,
Quyển đề họ Mục, tên Vinh vào trường.
Đua tài tỉnh thí, khoa hương,
Bảng đầu đã rõ tên chàng Mục Vinh.
Phủ Châu mừng rỡ linh đình,
1980. Hết lòng sắm sửa tiến Kinh cho chàng.
Chân hề, giong ruổi dặm tràng>
Đứa đeo thơ túi, đứa mang rượu bầu.
Mấy tuần gióng giả vó câu,
Tràng an trông đã thoắt đâu tới gần.
Tớ thầy tìm chốn chứa chân,
Chờ ngày nhảy sóng, đợi tuần hoá long.
Chen vai tài tử, danh công,
Kẻ toan bẻ quế, người hòng tung mây.
Qui mô trường ốc ai xây?
1990. Chia khu thập đạo, rào vây bốn thành.
Ba bề chín cửa thênh thênh,
Cột huyền bảng thẳng, cây đình liệu cao
Cậy tài sinh cũng xem sao,
Vũ môn ba đợt sóng đào xem khinh.

Lại còn một nỗi Xuân sinh,
Khâu Khôi đã đổi tính danh những ngày.
Hà nam nhập bạ phen này,
Đỗ hương cũng định ngày rày tiến Kinh.
Mấy tuần vừa tới đô thành,
2000. Trời kia xui khiến hai sinh đỗ đầu.
Cửa Phùng Đô sát gặp nhau,
Người tầm mẫu cữu kẻ cầu ân sư.
Quân hầu vâng dặn vào thưa,
Mời hai sinh hãy ngồi nhà nghênh tân.
Kìa thì Mai, nọ thì Trần,
Bâng khuâng suốt buổi, tần ngần giờ lâu.
Khóc than kể hết chuyện nhau,
Hợp tan mấy độ, trước sau mấy từng.
Tỏ tường chân tóc kẽ răng,
2010. Kẻ mừng chị sống, người mừng mẹ yên.
Hay đâu Đô sát Lạc Thiên,
Chiếu theo chủ khảo cầm quyền chưởng văn.
Biết đâu truyền gọi gia nhân,
Vâng lời ra quán nghênh tân đón vào.
Phùng công mừng rỡ xiết bao,
Hai sinh kể hết tiêu hao chuyện mình.
Ông rằng: “Gác chuyện gia tình,
“Trường quan, Cống sĩ có hình hiềm nghi.
“Ra ngoài hãy đợi trường kỳ,
2020. “Nhờ trời khi dễ việc gì cũng xong.”
Hai chàng bái tạ Phùng công,
Ra chùa Tướng quốc, trú chung một phường.
Nhân khi vắng vẻ đêm trường,
Tỏ nguồn cơn trước, kể đường đất xưa.

Mới hay những kẻ tài hoa,
Bảng vàng trời đã đợi chờ cho ai.
Một phen hội thí đua tài,
Giọng văn tú khẩu, hơi bài cẩm tâm.
Quan trường công chính không lầm,
2030. Khéo thay mực nẩy cân cầm chẳng sai.
Bảng treo trên đã rõ mười,
Mục Vinh thứ nhất, Khâu Khôi thứ nhì.
Văn trường đã định nhật kỳ,
Vừa xong thi Hội, lại thi Đình liền.
Thoả lòng văn nhẹ như tên,
Tài hay có tám, sức lên đến mười.
Ưu phân đáng giá tam khôi,
Mới hay trời có chiều người khi nên.
Phán truyền họ Mục, Trạng nguyên,
2040. Họ Khâu, Bảng nhãn hai tên rành rành.
Thiên ân ban trước phong đình,
Ba tuần ngự tửu, hai cành cung hoa,
Hương trời, lộc nước, phấn vua,
Rỡ ràng bông mãng, lập loè vàng đai.
Ba ngày thượng mã du nhai,
Lòng vua ưu hậu mắt người quan chiêm,
Vẻ vang gấm lại hoa thêm,
Thoả lòng bẻ quế cung thiềm bấy lâu.

Tân khoa một lũ trước sau,
2050. Cùng sang tướng phủ vào hầu Lư công.
Tạ từ ai nấy ra xong,
Mời riêng Bảng nhãn vào trong rốn ngồi.
Khoản trà lễ mạo hẳn hoi,
Dập dìu sớm đã cho mời Hoàng Tung.
Giả điều vua triệu tướng công,
Khâu, Hoàng ngồi lại vui trong chén quỳnh.
Tung rằng: “Hai chữ khoa danh,
“Tướng công đây những hậu tình quá yêu.
“Buồng hương có ả tiểu kiều,
2060. “Sàng đông cũng rắp toan điều cầu thân.
“Thôi thì dư thế, dư thần,
“Quan sang, chức trọng mười phân đến chàng.
Khâu sinh cười nói, thưa rằng:
“Tình người quyến cố xem bằng bể non.
“Duyên này đã định tao khang,
“Có đâu phụ nghĩa, tham sang lẽ nào!”
Tung rằng: “Khéo chấp nê sao,
“Xưa nay đổi vợ biết bao nhiêu người?
“Con người sắc nước hương trời,
2070. “Quá thương khi đã ngỏ lời dễ đâu.
“Cạn lòng nếu chẳng nghĩ sâu,
“Ăn năn e nữa đến sau luỵ mình.”

Sinh nghe mấy tiếng dỗ dành,
Đùng đùng nổi giận, bất bình khêu gan.
Mắng rằng: “Một lũ quyền gian,
“Nhơ mình chưa chán, lại toan hại người
“Mình đà là phận con nuôi,
“Nửa con hòng lại dắt ai vào cùng.
“Ta đây một tấm lòng trung,
2080. “Quyết đem giãi trước mặt rồng có phen.
“Thề không dung kẻ lộng quyền,
“Vì dân trừ hại mới nên anh tài.
“Khéo tay mối lái cũng đòi,
“Vo ve tiếng Trịnh nhàm tai phượng hoàng.”
Nói rồi lên kiệu vội vàng,
Trở về vừa đến nửa đường nghĩ ra:
“Ăn năn chút chửa xem cơ,
“Thôi thôi nóng giận đến ta là cùng.
“Lánh đi, nếu chẳng quyết lòng,
2090. “Chân loan chưa dễ lọt vòng lưới gian.”
Bàn riêng hai lẽ vừa an,
Thoắt đà đổi áo thay quan lánh mình.
Chuyện chàng đồn dậy kinh thành,
Gần xa ai cũng biết tình từ hôn.
Lư công nổi giận ồn ồn,
Kíp sai binh mã đổ dồn tìm quanh.
Cách xa mười dặm ngoài thành,
Thấy chàng thoắt đã giao binh điệu về.
Kể khoan, kể nhặt mọi bề,
2100. Rằng khinh phép nước, rằng chê lộc trời.
Truyền đem giam cấm một nơi,
Luận xong tội ấy, ngày mai tiến trình.

Trường quan nghe tỏ phong thanh,
Hòng làm sớ tấu giãi tình Khâu Khôi.
Lòng người vốn sẵn lẽ trời,
Mới hay trọng đạo ai ai cũng lòng.
Bấy giờ hội thí vừa xong,
Bốn phương sĩ tử còn đông Kinh thành.
Bực mình hai chữ công danh,
2110. Về nhà thẹn mặt, xuất hành ngại chân.
Tam khôi mừng những đắc nhân,
Nghe tin nhủ bảo xa gần thiếu ai?
Họp hành bàn bạc mấy lời,
Giận ai ép uổng, thương người oan khiên.
Việc này nhẫn nhục sao yên,
Bè gian rồi nữa lộng quyền đến đâu?
Lấn cành tầm gửi chẳng lâu,
Người kia trước, chúng ta sau cũng vừa.
Thôi thì ta lại vì ta,
2120. Nhẹ mình nặng nghĩa mới là trượng phu.
Kẻ rằng xin chớ hồ đồ,
Đón đường ta sẽ sửa cho một hồi.
Làm cho gian đảng đi đời,
Hãy khoan văn bút, thử chơi vũ bài.
Ở đâu bỗng có một người,
Thưa rằng: “Chuyện ấy xin người chớ nghi.
“Phỏng mà có đến lẽ gì,
“Đầu đoàn chuyện ấy, em thì xin đương.
“Vả em chút phận lỡ làng,
2130. “Tên thi vừa hỏng, tư lương cạn rồi.
“Về nhà thân thích không ai,
“Xin liều thân ấy, cứu người khôi khoa.”
Được lời như mở lòng ra,
Kéo nhau một lũ vào toà Phùng công.
Lạy rồi thưa hết thỉ chung,
Ông vừa thảo sớ để hòng vào tâu.
Khen rằng: “Sao khéo bảo nhau,
“Việc là việc nghĩa, lẽ đâu bảo đừng.
“Chỉn e tai vách mạch dừng,
2140. “Làm cho kín mít như bưng mới là.”
Vâng lời ai nấy trở ra,
Hẹn nhau chừng nửa canh ba đón đường.

Xin cho bắt được Lư, Hoàng,
Đừng phân trái phải, hãy toan đánh đòn.
Rày đừng vây cánh cha con,
Gian mưu đứt nọc, xảo ngôn hết nghề.
Đã đành tội hữu sở qui,
Rồi ra, ra đến những gì thì ra.
Kẻ rằng: “E lũ chúng ta,
2150. Người gần còn có người xa ngại ngùng.
“Xin về một chốn trú chân,
“Nhà tôi trọ đấy cũng gần ngọ môn.
“Buổi triều xe ngựa ồn ồn,
“Tiện đường đón đấy, nghĩ khôn lên trời.”
Cùng nhau miệng nói chân dời,
Sẵn nhà cùng ở một nơi đợi chờ.
Lặng nghe canh đã sang ba,
Kiệu đâu một lũ trông ra ngoài trường.
Phùng công kiệu trước thét đường,
2160. Kiệu sau Đảng Lục với chàng tân khoa.
Bảo nhau hai dãy dẹp ra,
Kiệu đâu sao thấy xa xa đến liền.
Tiền hô hậu ủng chật lèn,
Phủ Lư mới tỏ hiệu đèn là đây.
Hai bên chực sẵn đã đầy,
Kẻ trần tay áo, người xoay cánh đoài.
Người bẻ lọng, kẻ giằng roi,
Ầm ầm hơi giận, hồi hồi tiếng la.
Xúm quanh trước kiệu hỏi qua:
2170. “Khâu Khôi, Bảng nhãn tân khoa tội gì?
“Quyền như chú, chắc mạnh bè,
“Vu oan cho kẻ trung nhì được chưa?”
Bốn bên trận đánh như mưa,
Xé tan xương nịnh, ngay đờ mặt gian.
Trận đòn hội chợ ai can?
Bướm bay giấy lọng, kiệu tan lũ hầu.
Hoàng Tung kiệu đã đến sau,
Người kéo tóc, kẻ giằng đầu, xúm quanh.
Mảnh xiêm mảnh mãng tan tành,
2180. Tối tăm mắt nịnh thất kinh hồn tà.
Mới hay nhất quỉ nhì ma,
Học trò đến bực thứ ba thực là
Người kêu dưỡng tử cứu cha,
Kẻ kêu nghĩa phụ, ân gia cứu mình.
Tưng tưng trời mới bình minh,
Đường hoàng ngự trước, phong đình phân ban.
Lư, Hoàng thoát khỏi vòng oan,
Bưng đầu theo lũ bách quan vào quì.
Gượng đau lạy trước đan trì.
2190. Áo tươm tướp rách, mặt bì bì sưng.
Khóc than rền rĩ tâu rằng:
“Khâu Khôi hôm nọ tự dưng bôn đào
“Bắt về chưa kịp tâu vào,
“Hai quan chủ khảo sắp mưu hại người.
“Họp hàng sĩ tử một nơi,
“Đón đường, đánh đánh, lôi lôi một hồi.
“Cao minh xin tỏ đèn trời,
“Tra người vô phép, hỏi người mưu gian.”
Phán rằng: “Ngươi hãy ngồi an,
2200. “Còn tra dù thực, du gian rạch ròi.
“Chỉ đòi Phùng, Đảng hai người,
“Làm sao tâu thực mấy lời được hay,”
Tâu rằng: “Chút phận hèn ngây,
“Dám cho được dự khoa này chưởng văn.
“Đêm ngày lo lắng trăm phần,
“Di tài những sợ, đắc nhân là mừng.
“Gieo cho những tiếng hay chăng,
“Xét soi nhật nguyệt đôi vầng xin thương.
“Phường thi hỏng, với quan trường,
2210. “Còn chi tình diện toan đường giao thông.
“Chực ngoài lũ ấy còn đông,
“Dám xin tra thấu thỉ chung được nhờ,”
Tiếng vàng sang sảng ban ra,
Đòi vào sĩ tử hỏi qua tình đầu.
Bắt vào một lũ theo nhau,
Dưới sân kẻ trước, người sau lạy quì.
Phán rằng trong chốn trường qui.
“Làm điều bất pháp tội thì tại ai?”
Muôn tâu: “Hổ phận bất tài,
2220. “Tranh lèo, giật giải, nhường người quyết khoa.
“Nghĩ trong tảo vãn cũng là,
“Bằng bay, côn nhảy còn chờ hội sau.
“Phép vua, lời thánh để đâu?
“Tay cầm bìa sách, dám hầu phi vi?
“Việc này lắm mối gian khi.
“Dám xin tâu dưới đan trì đầu đuôi:
“Khoa này Bảng nhãn Khâu Khôi,
“Bậc người khoa giáp, vẻ người phong lưu.
“Hôm xưa Tướng phủ mời vào,
2230. “Khoe con má phấn, ướm trao chỉ hồng.
“Tân khoa một mực rằng không,
“Dám tham phú quí, phụ lòng tao khang.
“Tâng công bởi tại họ Hoàng,
“Quyết đường ép uổng, xui đường phân chia.
“Sợ vì phép, khiếp vì uy,
“Tân khoa mới phải tìm đi lánh mình.
“Nào còn dám tưởng công danh,
“Lư công biết thóp sai binh nã về.
“Làm cho bỏ lúc từ qui,
2240. “Vu cho phi pháp toan bề tâu gian,
“Chúng tôi cả quyết làm đơn,
“Muốn vì Bảng nhãn lo toan giãi bày,
“Nào ngờ tướng phủ đã hay,
“Canh khuya đuổi đánh toan bày mưu gian.
“Làm ra vò mũ, xé tàn,
“Cào mình, rạch mặt, vu oan cho người.”
Ngự nghe thấu hết đầu đuôi,
Lư, Hoàng khi ấy những lời tâu sai.
Phán rằng: “Những chúng vô loài,
2250. “Thương con, kén rể, bức người ép duyên”
Lư tâu rằng: “Việc nhỏ nhen,
“Tình riêng nhi nữ lọ phiền hỏi han?
“Chàng kia vô phép khi quan,
“Lũ kia đấu ẩu xin ban nghị hình.”

Ngự nghe thấu hết mọi tình,
Tức thì nổi giận lôi dình bởi đâu.
Phán rằng: “Gian đảng họp nhau,
“Dối trên hại dưới bấy lâu thông đồng.
“Thử xem lòng lại hỏi lòng,
2260. “Thẹn chưng mũ áo, hổ cùng cân đai.
“Nhàm tai, chẳng nói chi dài,
“Giao Tam pháp nghị, rạch ròi sẽ tâu.
Phùng công Đô sát làm đầu,
Thứ nhì Đại lý, đến sau bộ Hình.
Ba toà ngồi trước cung đình,
Nha môn chực dưới, long đình đặt trên.
Kia thì bị nọ thì nguyên,
Một bên sỉ tử, một bên Lư, Hoàng.
Nọc roi sắp sẵn hai hàng,
2270. Sai vào ngục viện đòi chàng Khâu Khôi.
Phùng công dạy trước mấy lời:
“Chào Lư Thái phó đầu đuôi đồng từ!”
Tư công nói hãy lờ đờ:
“Tôi cùng ba bác có là người đâu?
“Tờ bồi ráo riết chi nhau,
“Rồi ra, tình diện về sau còn dài.”
Quan rằng: “Nói cũng lạ đời,
“Tình trong đã vậy, lý ngoài làm sao?
“Ép duyên sai bắt thế nào?
2280. “Việc rành rành, phải đem vào lời cung.
Lư rằng: “Việc ép thì không,
“Con đây chưa dễ sàng đông thiếu người?
“Còn như chuyện bắt Khâu Khôi,
“Xưa nay quen vẫn làm rồi mới tâu.”
Ông rằng: “Binh sự là đầu,
“Đạo làm thần tử, dám hầu tự chuyên?
“Khi quân tội ấy đã nên,
“Lại còn nhắc chuyện lộng quyền vi phi.
“Bá Cao chết tại tội gì?
2290. “Đông Sơ bỏ ngục tội thì tại ai?”
Lư rằng: “Sao kể đường dài,
“Hãy cho xong án Khâu Khôi đã mà!
“Bá Cao với lại Đông Sơ,
“Tội làm trở đậu quân cơ bấy giờ.
“Trọng khinh bởi chữ lượng vua,
“Như đây có dự chi mà can liên.”
Ông rằng: “Liệu đấy mà xem,
“Nếu còn già miệng thì nên mất lòng!”
Còn đương tra hỏi chưa xong,
2300. Trông ra đã thấy quan trong, họ Hoàng
Đem vào đặt trước sảnh đường,
Long côn một chiếc, niêm hoàng một chương.
Ba toà tiếp chỉ vộì vàng,
Mấy lời ỏn ẻn họ Hoàng đã thưa:
“Này đồ phụng chỉ ban ra,
“Sao cho tận pháp mới là công minh.
“Gìa tay xin chớ ngại tình,
“Phen này hai mạng súc sinh đi đời.”
Phùng công hỏi thử mấy lời,
2310. Rỉ tai Hoàng mới khúc nôi kể bày.
Thưa rằng tôi đã tỏ đây,
“Đông cung nghĩ chút đạo thầy, toan bênh.
“Mặt rồng nổi giận lôi đình,
“Buộc công pháp lại, gác tình riêng ra.
“Thôi! thì trời cũng chẳng xa,
“Xưa nay hãm hại người ta đã đầy.”
Nói rồi mắm miệng, day tay,
Trông Lư Kỷ, lại rút giày ném theo.
Hung hăng mắng ít, nhiếc nhiều,
2320. Còn the thé giọng, toan điều nọ kia,
Phùng công khêu gợi tỉ tê;
“Bố mầy dường có thù gì với ai.
“Tội đâu có phép đấy rồi,
“Can chi mà cứ xơi xơi nhọc mình.”
Mặt còn men mét xám xanh,
Được lời, Hoàng mới kể tình xa xưa;
“Rằng tôi có chút cháu nhà,
“Lỵ Giang tây đạo tên là Thái Câu
“Chứng oan mắc phải mưu sâu,
2330. “Cũng vì thanh giản lấy đâu nhân tình?
“Giặc Hoàng Thổ trấn dấy binh,
“Án thông phỉ ấy, đã dành cho ngay.
“Kiến bò miệng chén mau thay,
“Mưu kia đã lắm, vạ này cũng thâm.
Họ Hoàng quen thói thâm trầm
Ngoài thơn thớt miệng, trong tâm ngẩm lòng.
Cắm gần sẵn có roi đồng,
Dang tay đã diệt Hoàng Tung một hồi.
Bước ra còn nói mấy lời:
2340. “Đại nhân, xin xét một hai cho cùng.”
Ông rằng: “Phải việc nói không,
“Lòng người là sắt, phép công là lò.
“Bây giờ còn dám quanh co,
“Truyền đòi Hình bộ, hãy cho giở nghề.”
Dạ rân sát sạt xa nghe,
Đỉa, giăng thẳng nọc, đuối, vì vụt roi
Một sân thịt nát, xương rơi,
Ngất đi một lúc, lại hôì mấy phen.
Lư, Hoàng biết thế khôn kiêng,
2350. Xin khoan roi, để việc liền chiêu ra.
Mai, Trần hai án ngày xưa,
Khôi Khâu một án bây giờ, chịu đoan.
Ba toà một mực truyền ban
Sai nghiên bút, lấy cung đoan mấy tờ.
Phùng công truyền phó canh giờ,
Rồi xem án tấu, đợi chờ xử phân.
Kíp về tư thất dời chân,
Mời chàng Mai với chàng Xuân dặn dò.
Trời đà chứng kẻ oan vu,
2360. Trừ gian, may lại phục thù có cơ.
Mặt rồng gang tấc không xa,
Giãi tình oan khuất, hoạ nhờ thiên ân
Vâng lời dặn dỗ ân cần,
Hai chàng thảo sẵn sớ văn hai bài.

Buổi triều vừa rạng ngày mai,
Hơn trăm sĩ tử chực ngoài hành lang
Phùng công tâu án Lư, Hoàng,
Phân minh trạng chỉ, rõ ràng tờ cung,
Đường hoàng xem hết thỉ chung,
2370. Phán rằng: “Gian tặc thông đồng bấy nay.
“Bá Cao oan uổng thương thay!
“Đông Sơ bỏ ngục, nào hay tội gì?”
Cửu trùng hạ chỉ tức thì:
Họ Trần tha tội, lại về chức xưa.
Mai công oan khuất xót xa,
Chẳng hay con cái bây giờ còn ai?
Phùng công tâu trước mấy lời:
“Chuyện ny chân, giả đèn trời xin soi.
“Trạng nguyên ấy thực họ Mai,
2380. Mà Khâu Bảng nhãn hẳn hoi họ Trần.
Phán rằng một cửa trung thần,
“Truyền cho hai gã vào sân đan trì.
Lễ rồi, trước điện đều quỳ,
Bạch oan sẵn sớ tức thì dâng lên.
Vua Đường xem hết sự duyên,
Phán rằng: “Tung, Kỷ hại liền bấy lâu.
Truyền đem chính pháp bêu đầu,
Trạng nguyên Bảng nhãn đứng đầu hai bên.
Ban cho phục họ, phục tên,
2390. Cao minh muôn đội ơn trên chín lần.

Suy ra mới biết trời gần,
Chính tà một bụng, quỉ thần hai vai.
Gian thần chưa chắc nẩy chồi,
Núi băng khi thấy mặt trời hẳn tan.
Trung trinh dẫu có mắc oan,
Vẫn trơ cây cứng, không chồn gió lay.
Về sau ngay lại ra ngay,
Khỏi tuần hoạn nạn, đến ngày hiển vinh.
Lư, Hoàng thực đã đáng tình,
2400. Đem ra chính pháp hành hình một giây.
Tan tành thịt nát, xương bay,
Nắng bêu mặt nịnh, đất rây máu tà.
Chán lời kẻ lại, người qua:
“Bây giờ thế ấy thuở xưa thế nào?”
Trần công ra khỏi thiên lao,
Ngọ môn chực sẵn đã vào tạ ân.
Phùng công mừng rỡ cố nhân,
Mời về tư thất ân cần thở than.
Rể con sum họp một đoàn.
2410. Người than chuyện trước, kẻ bàn nỗi xưa.
Nhớ nhung kẽ tóc chân tơ,
Gian nan là mấy, nương nhờ những đâu?
Bao nhiêu tân khổbấy lâu,
Giật mình đòi lúc, lắc đầu đòi phen.

Khi nên mọi việc mọi nên,
Chiếu trời đâu đã tốc truyền tới nơi.
Định ngày ngự tế họ Mai,
Phong làm Thái bảo dựng bài liệt trung
Trạng nguyên với lại Trần, Phùng,
2420. Ban quyền Học sĩ dự phần yếu thanh.
Còn như Bảng nhãn Xuân sinh,
Làm Đô ngự sử, quyền hành hạch tâu
Họ Trần, họ Đảng, họ Khâu,
Trật gia tam cấp đợi sau kén dùng.
Vợ Mai công, vợ Trần công,
Lại cùng Trần Hạnh, lại cùng Vân Anh
Phu nhân nhất phẩm cực vinh,
Khen cho chữ nghĩa, chữ trinh một nhà,
Vân Tiên với lại Ngọc Thư,
2430. Phẩm đề đệ nhị, cũng là phu nhân.
Mai công khai táng đến tuần,
Hoàng thân tế điện, triều thần trợ nghi.
Trạng nguyên nhân tiện đường đi,
Duyên đồ hộ tống, về quê châu Thường.
Lại ban tuần thú bốn phương,
Ấn vàng một quả, kiếm vàng một thanh.
Một mình quyền được tiện hành,
Thẳng tay nẩy mực, công bình cầm cân.
Lại cho về việc đại tuần
2440. Hoàn hôn ngự tứ nghênh thân một ngày.
Lắng tay rõ chiếu năm mây,
Hai chàng vào trước, lạy bày tạ ân.
Xem ngày ngự tế đã gần,
Cho tin báo trước tăng nhân dọn chùa.
Trạng nguyên mặc áo thôi ma,
Trước vào lễ phật, sau ra tảo phần.
Điển nghi khắp mặt triều thần,
Một tờ dụ chỉ, ba tuần rượu hoa.
Cột kết thái, trướng rủ là,
2450. Đèn gần chong sáp, đỉnh xa bay trầm.
Trống tam nghiêm, nhạc bát âm,
Mấy mâm sinh lễ mấy mâm tư thình.
Sống trung liệt thác anh linh,
Suối vàng thơm phách, mây xanh thoả hồn.
Đã đành trung hiếu nhất môn,
Ơn vua nhuần gội, tiếng con rỡ ràng.

Tế rồi linh cữu lên đường,
Trạng nguyên lĩnh ấn, gươm vàng ra đi.
Tạ ân vào trước tâu quì,
2460. “Việc công đâu dám bận vì tình riêng.
“Tưởng khi lánh nạn băng miền,
“Theo chân cậy có một tên Hỉ Đồng.
“Nghĩ trong thầy tớ xét công,
“Mấy cơn nguy hiểm, mấy vòng gian nan.
“Tìm vào nhạc phụ Hầu Loan,
“Hay đâu cùng với quyền gian một lòng.
“Cũng toan bắt nộp lấy công,
“Giả hình khi ấy Hỉ Đồng đỡ thay,
“Rày nhờ rộng bước đường mây,
2470. “Ngậm ngùi đạo tớ, nghĩa thầy chưa quên.
“Móc mưa xin tưới cửu tuyền,
“Gọi là tinh biểu “để đền chút công.”
Vua Đường nghe hết thỉ chung,
Khen rằng tiết nghĩa hiếu trung một nhà.
Của kho ban dựng miếu thờ,
Chức ban Thất phẩm. gọi là tặng phong
Tạ từ năm lạy đền rồng,
Trở ra rước cữu Mai công xuống thuyền.
Tiễn đưa xe ngựa như nêm,
2480. Trống ran mặt đất, cờ liền bóng sông.
Đồ hiếu sự vẻ quân dung,
Sông lồng giới trượng gió tung biển kỳ.
Đến đâu quyền được tiện nghi,
Một tay thưởng phạt hai bề công minh.

Lần lần gió mát trăng thanh,
Thuyền đà tới phủ Đại danh bao giờ.
Một vài thầy tớ lên bờ,
Dân tình lại tệ, giả vờ, hỏi chơi.
Khác hình ai biết là ai,
2490. Đi lần bỗng thấy một nơi có chùa.
Cửa ngoài thấy có niêm tờ,
Phủ nha nghiêm cấm kẻ ra người vào.
Nghĩ riêng chưa biết làm sao,
Xưa nay cửa bụt dễ nào hẹp ai?
May sao gặp lúc vắng người
Dời chân sẽ lẻn vào nơi hậu đường.
Thấy trong thờ phụng một giường,
Trông lên bài vị rõ ràng Lư công.
Thái sư chức tước đề trong,
2500. Chữ “Hầu Loan phụng” một dòng đề bên.
Cầm tay cất lấy về liền
Cười rằng cấm cách nhân duyên thế này!
Về thuyền, quân đã sắp bày,
Vào toà sát viện sai ngay đi đòi.
Nghe quan Tuần phủ đến nơi,
Hầu Loan mình đã bồ hôi ướt nhè,
Mấy lời truyền hỏi xa nghe:
“Viên kia có mất của gì biết chưa?
“Đồn rằng có ả tiểu thư,
2510. “Đông sàng ngôi ấy bây giờ là ai?”
Loan nghe chưa hết đầu đuôi,
Rung rung sợ sợ, mở lời không ra
Thưa rằng: “Có chút gái thơ,
“Mấy năm trước đã chơi xa suối vàng.
“Chức ti phận tiểu tầm thường,
“Chẳng hay thượng hiến, sao tường duyên do.
“Đến mừng chậm chạp già nô,
“Dám xin thượng hiến thứ cho được nhờ.
Quở rằng: “Lộc nước ơn vua,
2520. “Còn lo thất hiếu mà thờ họ Lư!
“Cả gan còn dám quanh co.
“Chứ thì bài vị sau chùa tên ai?
“Nghi trưng những chuyện mới rồi,
“Bấy giờ bắt nộp họ Mai, công gì?
“A dua chắc những mạnh bè,
“Ai hay quyền ấy lại về tay ai?
“Ruổi mau lệnh tiễn kỳ bài,
“Đem ra chính pháp, răn người vô lương.
Oai trời một lưới tứ phương,
2530. Rung gan đảng nịnh, ghê xương lũ tà.
Gần gần đã thấu tin nhà,
Châu công đã khiến người ra đón mời.
Quan quân sắm sửa tơi bời,
Cờ giăng nhất tự, trống hồi tam liên.
Biển vàng: “Tuần thú đại thiên.”
Một bên bảo kiếm, một bên lệnh bài.
Phủ Châu thoắt đã tới nơi,
Châu công ra đón cửa ngoài mừng vui.
Phấn vua rạng vẻ cân đai,
2540. Hà nam gia khách vẫn người ngày xưa.
Quan cựu lại, bực tân khoa,
Tình nhạc phụ, nghĩa ân gia vuông tròn.
Tiệc rồi giãi chuyện hàn ôn,
Gấm chen vẻ quí, rượu ngon giọng tình.
Sinh rằng: “Nhờ phận khoa danh,
“Quốc gia ơn rộng, môn đình thơm lây.
“Chiếu trời đã tỏ năm mây,
“Xong tuần đại thú, đến ngày nghênh thân.
“Khâm kỳ nghe đã gần gần,
2550. “Một nhà xin liệu, định tuần lai Kinh.”
Bước vào làm lễ gia đình,
Tạ từ sinh đã khởi trình trẩy ra.
Tình cố hữu, nghĩa thông gia,
Ông đà sửa lễ, cho đưa theo thuyền.
Xuôi dòng nước chảy như tên,
Buồm giong thoắt đã tới miền Thường Châu.
Gieo neo kề bến mã đầu,
Sửa sang nhà trước, vườn sau mấy tuần.
Cho tin đi đón mẫu thân,
2560. Sơn đông nhà cậu cũng gần chẳng xa.
Mấy ngày bà đã tới nhà,
Ruột dò chín khúc, lệ sa đôi hàng.
Vật mình lăn trước linh sàng.
Khúc oan kể lể, nỗi thương ngậm ngùi.
Nhìn chàng, than thở mấy lời,
Nghĩa sâu mẫu tử, tình dài biệt ly.
Ôm quan khóc lóc nằn nì,
Nghĩa phu phụ những nặng vì nước non.
Thảm chồng thôi lại mừng con,
2570. Thức cười nước mắt, ngủ hồn chiêm bao
Sinh rằng: “Chín chữ cù lao,
“Bể sâu mấy trượng, trời cao mấy trùng.
“Bấy lâu nam bắc tây đông,
“Bước chân xa cách, tấc lòng quặn đau.
“Trời cho rày được tụ đầu,
“Nợ xưa nhẹ gánh, phúc sau đền phần.
“Con vâng vương mệnh tại thân,
“Vinh qui, hối táng, đại tuần, một phen.
“Rồi đây táng tế cho yên,
2580. “Mẫu thân xin rước xuống thuyền lai Kinh.
“Chẳng lâu con cũng khởi hành,
“Trước lầu ngữ phượng đại thành lễ thân.”
Mấy ngày táng sự đến tuần,
Đã tìm đất tốt phong thần một nơi.
Chiếc bia “trung liệt” dựng ngoài,
Đá xanh tạc lấy được ngày treo trên.
Thành phần nóc rạp kéo lên,
Ba vòng giáo dóng, hai bên thái kỳ.
Tầng trong bày đặt uy nghi,
2590. Ngậm tăm hơi miệng, kéo rề bước chân.
Tiêu thiều nhã nhạc xa gần,
Tam huyền nhịp nhặt, song vần tiếng khoan.
Đồ điếu phúng, lễ ngự ban,
Mấy mâm ngũ thục, mấy bàn tam sinh.
Chữ vàng đề trước minh tinh
Đường triều Thái bảo chính danh rõ ràng.
Quan quân tiễn kiệu kéo hàng,
Hạ liêu mấy lũ, bộ đường mấy ban
Trạng nguyên đi trước phù quan.
2600. Phu nhân nối kiệu buông màn phương du.
Lập lăng mấy gốc tùng thu,
Một vùng sảng khải đắp mồ ngưu miên.
Bấy lâu táng lễ vừa yên,
Phu nhân đã giục xuống thuyền đi Kinh.
Trạng nguyên cứ việc tuần hành,
Nghi trưng vừa mới nhật trình tới ngay.
Lạ quen cũng một miền này,
Sao xưa trốn tránh mà rày hiển dương?
Thoảng qua sực nhớ mọi đường,
2610. Chợt lòng lại động tấm thương Hỉ Đồng.
Tra ra tri huyện Sử công,
Môn sinh Lư Kỷ cũng vòng quyền gian.
Sá chi mọn mảy xẻ đàn,
Nhiêu cho tính mệnh lại hoàn thứ nhân.
Công lênh nhớ đến Đồ Thân,
Cho làm huyện lệnh đền ân tấm lòng.
Bắc môn ghi mả Hỉ Đồng,
Dựng bia đá, lấy sắc phong tạc liền,
Lại truyền sửa rạp một bên,
2620. Trước mồ tế điện một phen thân hành.
Khóc than kể hết mọi tình:
“Có công danh ấy vì mình chớ ai.
“Vì ta trót đã thiệt đời,
“Đền công, ta cũng nhớ lời khấn xưa.”
Băn khoăn đường đất cách xa,
Giao Đồ Thân, tự bấy giờ giữ coi.
Phỏng sau kế tự còn dài,
Họ Đồ nhường lại một người họ Vương
Gọi là phụng tự khói hương,
2630. Ấy là tròn hết mọi đường thỉ chung.
Đồ Thân vâng dạy ghi lòng,
Đem con bèn cải Hỉ Đồng họ Vương,
Lại tìm đến chốn phật đường,
Truyền đem áo tía xe vàng nghênh sư,
Tái sinh may có ơn xưa,
Khấu đầu bách bái tạ thưa mấy lời.
Chàng từ ân oán rạch ròi,
Cất không gánh nặng, tát vơi bể sầu,
Tuần hành mọi chốn đâu đâu,
2640 Trong lòng phép nước, trên đầu ơn vua.
Công không sót, tội không tha,
Phân hào chẳng lẫn, tóc tơ nào lầm.
Mấy phen mực nẩy, cân cầm,
Trong veo lại tệ, nổi bồng dân ca.

Lần lần đông lại xuân qua,
Một vòng tuần thú tính đà khắp quanh
Định ngày phục mệnh lai Kinh,
Sớ văn một tập, hiện thành tâu lên.
Chín lần đã động tiếng khen,
2650. Tấc lòng công chính, mấy phen nhọc nhằn.
Trên vì nước dưới vì dân,
Ban cho cực phẩm Tể thần đền công.
Truyền Khâm thiên giám hội đồng,
Chọn ngày đại cát động phòng nghênh thân.
Trạng nguyên thay áo Tể thần,
Dưới thềm năm lạy tạ ơn khấu đầu.
Nhàn chơi lui tới thiếu đâu,
Phủ Trần đi lại, phủ Khâu ra vào.

Trời xuân minh mị thế nào,
2660. Lưỡi oanh ríu rít, bông đào so le.
Phượng lâu sắp sẵn lễ nghi,
Khâm thiên đã định nhật kỳ tư ra.
Tháng ba vừa bữa mồng ba,
Là ngày hoàng đạo, là giờ thiên ân.
Xiết bao khí ngoạn kim ngân,
Phủ Mai lĩnh trước, phủ Trần lĩnh sau.
Bạc, vàng, ngà, ngọc, thiếu đâu,
Cung hương, mã não, minh châu, mấy bàn.
Rỡ ràng phẩm phục mới ban,
2670. Mãng bào hai bộ, hoa quan bốn toà.
Hôm sau vừa rạng mồng ba,
Cao cao lầu phượng, xa xa mặt rồng.
Ngai vàng thăm thẳm bên trong,
Bách quan văn võ hội đồng bấy lâu.
Trạng nguyên trước, Bảng nhãn sau,
Yết câu vạn tuế, khấu đầu lạy xa.
Ban cho ngự tửu, cung hoa,
Hai yên ngựa trước, bốn toà kiệu sau.
Trước sau phân đạo ruổi mau,
2680. Phủ Trần nhộn nhịp, phủ Châu linh đình.
Thiếu gì vẻ quí màu thanh,
Rỡ ràng kết thái, rập rình trương đăng.
Hai bên tiếp đãi tưng bừng,
Nhạc râm rỉ vỗ, hương lừng lẫy xông.
Khéo là thu xếp cũng thông,
Châu công đã hợp Trần công một nhà.
Mai sinh lạy bốn ông bà,
Bên là công đẻ, bên là công nuôi.
Vân Anh, Trần Hạnh hai người,
2690. Cung trang sắm sửa cùng ngồi kiệu hoa.
Bên kia Khâu phủ xa xa,
Xuân sinh gióng ngựa cũng vừa tới nơi.
Ông bà Khâu thị cùng ngồi,
Chàng vào tám lẽ, lễ rồi bước ra.
Giường bên bốn lạy Ngư bà,
Tình là bán tử, nghĩa là tái sinh.
Vân Tiên, Châu Ngọc sắm sanh.
Kiệu đà ghé bến trước bình cùng lên.
Vừa xong lễ sính đôi bên,
2700. Trước sau một lũ kéo liền thẳng giong.
Trạng nguyên ngựa trước song song,
Khác nào như thể cỡi rồng lên tiên,
Ngựa sau Bảng nhãn theo liền,
Giải đào chân để, nệm sen mình ngồi.
Rườm rà chân chỉ hạt trai,
Vàng suy miệng hậu, cừ nhồi mã yên.
Nối sau bốn kiệu kéo liền,
Tám đòn nhận ngọc, bốn bên buông rèm.
Liễu hoàn, chị chị, em em,
2710. Chạy gần che quạt, theo chen ôm lò.
Kiệu hoa nhẹ bước từ từ,
Kiệu theo ngựa trước, ngựa chờ kiệu sau.
Vòng ngoài nhộn nhịp quân hầu,
Ngửa trông đã thấy phượng lâu dưới thềm.
Khen rằng sáu gã thanh niên,
Trai tài gái sắc, hai bên kịp thì.
Thơ đào ngợi chữ vu qui,
Ban thêm châu ngọc cho về thành thân.
Đôi tài tử, bốn giai nhân,
2720. Phủ Mai bài trí, phủ Trần sửa sang.
Đuốc hoa, màn gấm, sẵn sàng,
Định ngôi gửi rể, chia buồng đông tây.
Rượu mừng mặt, lễ bắt tay,
Nơi vui bàn ngọc, nơi vầy cuộc tiên.
Rạng mai vào lễ thánh tiền,
Ban cho bồi yến ngự diên hai chàng.
Thiên nhan gần gũi tấc gang,
Nến hoa đối mặt, chén vàng trao tay.
Tiệc vui chầu chực tối ngày,
2730. Lại ban ngự chức đưa ngay đến lầu.
Dần dà cách mấy đêm sau,
Ban đòi tân phụ vào chầu từ cung.
Bốn nàng dự yến đền trong,
Ân vua gội thấm, tiếng chồng thơm lây.

Rồi ra yến ẩm mấy ngày,
Khi vui Mai phủ, khi vầy Trần gia.
Mời nhau lần lượt tiệc hoa,
Thôi bên Trần thị, lại toà Khâu công.
Phong lưu phú quí cùng chung,
2740. Bõ ngày truân hiểm, bõ công sách đèn.
Hai tài tử, bốn thuyền quyên,
Tiếng người mới, vẫn người quen bao giờ.
Dàn trước gió, rượu bên hoa,
Câu thơ trong tuyết, cuộc cờ dưới trăng.
Xướng tuỳ đều giữ đạo hằng,
Một nhà hảo hợp dễ chăng mấy người.
Có phen ôn chuyện trùng đài,
Có phen nhắc chuyện thoa rơi nực cười,
Có phen nhắc chuyện lôi thôi,
2750. Đền Chiêu Quân điện thủa đời Hán gia.
Bèn đem tâm sự tâu qua,
Lại xin ở đấy đợi chờ chiêm bao.
Canh khuya thấy sứ đòi vào,
Bảo qua mấy tiếng tiêu hao sự nhà.
Hôm sau đến Hắc thuỷ hà,
Gieo châu, bỗng thấy thần đưa đem về.
Đằng vân giá vũ, cũng ghê,
Một giây bỗng thấy đưa về Trung hoa.
Xin làm ngọc xuyến, kim hoa,
2760. Mượn người thương khách đem đưa sang Hồ.
Hỏi thăm đến tối linh từ,
Chiêu Quân là hiệu, bấy giờ tiến lên.
Khấn rằng là của Hạnh Nguyên,
Cho sai đưa đến án tiền tạ ân.
Lại ra các bộ sứ thần,
Tạ từ cơ thiếp, vân vân mấy lời.
Có phen kể tích Giang Khôi,
Có phen nhớ nỗi vớt chài cầu vui.
Hai nhà phúc hậu vẹn mười,
2770. Thung thăng cõi thọ đứng ngồi đền xuân.
Đông hàng lông phượng gót lân,
Kìa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng.
Đời đời khoa mục đỉnh chung,
Rõ nền thi lễ, nối dòng thư hương.
Hiếu, trung, tiết, nghĩa đủ đường,
Dựng bia muôn kiếp, để gương nghìn đời.

Phần kết câu chuyện “Nhị độ mai”

Đoạn kết câu chuyện “Nhị độ mai”, tác giả nhắc lại thuyết báo ứng và khuyên người ta nên giữ lấy lòng ngay thẳng.

Cho hay trời cũng ngồi rồi,
Tuần hoàn đem lại vòng dài rút chơi.
Dữ, lành bỏ lửng mà coi,
2780. Sắp đâu vào đấy chẳng sai phân hào!
Gian tà chớ vội bảnh bao,
Tung lên cho đến, buộc vào tự nhiên.
Trước dù lỏng lẻo dường thiên,
Sau càng ráo riết, mới tin tay già.
Trung lương còn bỏ lửng lơ,
Xoay trăm nghìn cấp, thử ba bốn lần.
Hãy cho đeo đẳng đủ phần,
Rõ lòng sắt đá liệu dần gỡ cho.
Voi chẳng đẻ, đẻ thì to,
2790. Bấy giờ mới rõ thực lò Hoá công.
Truyện này xem thấu thỉ chung,
Suy ra mới biết trời không có lầm.
Dữ, lành trong một chữ tâm,
Cơ thâm thì hoạ cũng thâm là thường.
Ví hay tu tỉnh mọi đường,
Trước dù chịu thiệt, sau càng thấy hơn.
Bàn riêng mấy bạn kim lan,
Phường ta bất quá sàn sàn bực trung.
Dở đâu như Kỷ như Tung,
2800. Hay đâu ví với Mai công mà rằng.
Bình cư giữ lấy đạo hằng,
Hễ người trung chính xin đừng tự khi.
Đã là nam tử tu my,
Vào vòng công nghiệp, ấy thì có vua.
Mới hay từ tóc đến tơ,
Miếng cơm, tấm áo cũng nhờ quân ân.
Sao cho được chữ trung thần,
Thờ vua chớ có vị thân mới đành.
Thế rồi trời cũng có mình,
2810. Lo gì phúc hậu, công danh kém người.
Phòng văn nhân buổi ngồi rồi,
Học đòi tấp tểnh mấy lời nôm na.
Trước là rõ kẻ trung, tà,
Sau là ta dặn lấy ta mọi bề.
Biết bao lời kệch tiếng quê,
Thôi thôi bất quá là nghề mua vui!

Truyện "Nhị độ mai"
Truyện “Nhị độ mai”

Cảm nhận về truyện “Nhị độ mai”

Thông thường mà nói thì truyện này cũng chỉ xây dựng dựa trên chủ đề chung: trung, hiếu, tiết, nghĩa. Tuy nhiên, tác giả đã có ưu điểm là xuyên qua chủ đề trên, mà nêu bật mối tình bạn khăng khít giữa họ Mai và họ Trần trong việc đấu tranh cho chính nghĩa chống bọn lộng thần Lư Kỷ và Hoàng Tung, đồng thời cũng nêu bật mối tình chung thủy giữa Mai Sinh và Hạnh Nguyên.

Thông qua sự xung đột giữa phe thiện và phe ác đó, chúng ta thấy rõ được mâu thuẫn sâu sắc giữa người dân và giai cấp thống trị trong xã hội thời bấy giờ. Vai trò người dân ở đây được bộc lộ ở ba sự kiện: người dân huyện Lịch thành có cảm tình với Mai Bá Cao, người dân chài lưới bảo vệ cho Xuân Sinh chống một tên con quan ngang ngược, cống sinh đánh Lư Kỷ và Hoàng Tung để bênh vực Xuân Sinh,…

Trong cái xã hội mà vua thì nhu nhược, quan lại thì tham ô, gian ác, xã hội đầy rẫy những việc xấu xa như hối lộ, bè phái, hãm hại lẫn nhau như vậy, những gia đình ngay thẳng như họ Mai, họ Trần phải chịu những nỗi oan khốc, đau thương là lẽ tất nhiên. Có điều cuối cùng chính nghĩa đã thắng gian tà, và nhà vua đã sáng mắt ra trước bao nhiêu sự thật từ sự phản kháng và đấu tranh của các nhân vật trong truyện mang lại.

Suốt cả câu chuyện, tác giả đã luôn có ý tô đậm chữ “trung” thông qua các nhân vật chính nghĩa. Riêng đối với những người tốt như Ngư Bà, Hỉ Đồng, Thúy Hoàn,… thì chưa được chú trọng thích đáng. Những nhân vật nổi bật ở đây chỉ là những nhân vật đại diện cho tầng lớp trên. Đấy là những hạn chế tất yếu của tác giả trong khuôn khổ xã hội thời xưa.

Điểm hạn chế lớn nhất trong truyện “Nhị độ mai” là các nhân vật chính như Mai Lương Ngọc và Trần Xuân Sinh đều là những người thiếu nghị lực để có thể đối phó với các tình huống khó khăn trong cuộc sống. Gặp bước gian nan khổ sở, họ không còn biết làm gì hơn là tự tử. Những nhân vật như thế cuối cùng được vinh hiển, sung sướng phần nào cũng khiến cho giá trị của câu chuyện bị giảm đi đôi chút.

Giống như nhiều tác phẩm văn học bình dân khác, nghệ thuật trong truyện “Nhị độ mai” chưa có nhiều đặc sắc. Lời văn thất thường chưa được nhất trí, có nhiều câu lại giống những câu trong truyện Kiều, cho thấy tác giả có thể đã chịu ảnh hưởng bởi “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Ngoài ra, trong truyện sử dụng khá nhiều điển tích khiến cho người đọc phải dành thời gian tìm hiểu, tra cứu mới hiểu hết được ý nghĩa.

Người dân lao động thích truyện “Nhị độ mai”, vì tác giả đã lột tả được một phần bộ mặt xấu xa của chế độ phong kiến, đã nói lên được nỗi uất ức của những người lương thiện bị đè nén và ý chí bất khuất của họ trước kẻ thù.

Các tác phẩm truyện thơ Nôm bình dân khuyết danh

Ngoài câu chuyện “Nhị độ mai” kể trên, Thế giới văn học còn sưu tầm và tuyển chọn rất nhiều các tác phẩm truyện thơ Nôm khác giới thiệu đến bạn đọc. Đây đều là những áng cổ văn phổ biến và được đại đa số người dân lao động xưa kia yêu thích.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*