Trang chủ Thơ ca chọn lọc Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu

Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu

Văn tế Phan Châu Trinh được Phan Bội Châu thảo khi đang bị giam lỏng ở Huế, bày tỏ tấm lòng tiếc thương của ông đối với nhà chí sĩ yêu nước.

Tiểu dẫn

Văn tế Phan Châu Trinh được Phan Bội Châu thảo khi đang bị giam lỏng ở Huế, bày tỏ tấm lòng tiếc thương của ông đối với nhà chí sĩ yêu nước.

Phan Châu Trinh (Có văn bản viết Phan Chu Trinh) biệt hiệu Tây Hồ hay Hy Mã, sinh năm 1872, quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, và là nhà hoạt động chính trị.

Năm 1900, ông thi Hương đỗ Cử nhân, năm sau thi Hội đỗ Phó bảng, được bổ nhiệm làm Thừa biện Bộ Lễ trong triều đình Huế. Nhưng chỉ ít lâu sau, do tiếp thu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản, ông từ quan về liên lạc với các nhà yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, đề xướng phong trào Duy Tân, trở thành một nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 24 tháng 3 năm 1926, Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn. Tin ấy truyền đi, từ Nam chí Bắc, đâu đâu cũng làm câu đối phúng, tổ chức truy điệu, để tang, gây thành một phong trào sôi nổi đầy tính chất yêu nước. Bấy giờ Phan Bội Châu mới vừa được thả và đưa về giam lỏng ở Huế. Hay tin ấy, ông thay mặt đồng bào Huế thảo bài văn tế Phan Châu Trinh, bày tỏ tấm lòng thương tiếc của mình.

Các bạn có thể xem thêm ⇒ BÀI VIẾT NÀY để hiểu hơn về tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp Phan Châu Trinh.

Tiểu sử Phan Châu Trinh
Tiểu sử Phan Châu Trinh

Bài văn tế Phan Châu Trinh

Than ôi!
Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ (1), cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri;
Dấu địa linh (2) con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét dễ đau lòng hậu bối (3).

Vẫn biết tinh thần di tạo hóa (4), sống là còn mà thác cũng như còn;

Chỉ vì thời thế khuất anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi.

Lấy ai đây nối gót nghìn thu?
Vậy ta phải kêu người chín suối.

Nhớ tiên sinh xưa:
Tú dục Nam châu (5);
Linh chung Đà hải (6).

Nghiệp thừa gia cung kiếm cũng pha đường (7);
Nền tác thánh (8), thi thư từng thuộc lối.

Gan to tày bể, sức xông pha nào kể ức muôn người;
Mắt sáng hơn đèn, tài linh lợi từ khi năm bảy tuổi.

Vận nước gặp cơn dâu bể, đeo vai thân sĩ, còn lòng đâu áo mũ xênh xang;
Thói nhà chăm nghiệp bút nghiên, giấu mặt hào hùng, thì tạm cũng khoa trường theo đuổi.

Song le:
Khí vẫn tranh vanh (9);
chí càng viễn đại.

Tài Mã Ni (10) đang chứa sức hô hào;
Tuồng Lỗ Dịch (11) quyết ra tay đào thải.

Đội tiên phong đâu tá, gió duy tân từ Đông Hải thổi vào;
Gương ngoại quốc kia là, sóng cách mạng bởi Âu châu dồn tới.

Dọc ngang trời đất, rực vẻ văn minh;
Tức tối nước nhà, cam đường hủ bại.

Cá chậu chim lồng vơ vẩn thế, áng công danh thôi vất lối tầm thường;
Rồng mây cọp gió lạ lùng chi, miền thanh khí thử hô người trung ngoại.

Cậy tân học dặn dò đường tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức (12) so sánh người xưa;
Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân (13), lỏi len đường mới.

Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê;
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói.

Phỏng khiến:
Trình độ dân ta cao;
Trí thức dân ta giỏi.

Khí dân ta ngày một dồi dào;
Sức dân ta ngày càng cứng cỏi.

Một tiếng xướng có muôn tiếng họa, thần tự do nên đủng đỉnh về đây;
Bạn người Việt với thầy người Tây (14), ma chuyên chế dám dùng dằng ở mãi.

Nào hay:
Trời đã éo le;
Người càng quỉ quái.

Chứa chan máu quốc, nước vẩn vơ hồn;
Xao xác tiếng gà, trời mờ mịt tối.

Trường nô lệ chung quanh là rắn rết, văn cứu thời khen khéo gây oan (15);
Ổ dã man ngan ngát những hùm bao, miệng ái quốc hóa nên buộc tội (16).

Thành Hà Nội ùn ùn mây ác độc, nào kẻ lánh mình, nào người chống thế, chữ âm mưu tô vẽ đủ trăm đường;

Đảo Côn Lôn rực rực lửa oan cừu, thấy người yêu nước, thấy kẻ thương dân, tơ xướng loạn dệt thêu ra một mối (17).

Mưa dồn gió dập, thương khách lưu lu;
Biển thẳm trời xa, xót ông chìm nổi (18).

Thân, Dậu, Tuất (19), bấy nhiêu năm tân khổ, khi đào cây, khi lượm đá, giữa bể trần gió bụi vẫn thung dung;

Đặng, Hoàng, Ngô (20), ba bốn bác hàn huyên, lúc uống rượu, lúc ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khảng khái.

Hồi đen may cũng lần lừa;
Lòng đỏ vẫn còn hăng hái.

Quay đầu lại giả ơn tù đảo, tấm thân già còn nặng gánh giang sơn;
Bước chân đi tìm bạn Âu châu, đôi tay trắng quyết phất cờ xã hội (21).

Án tái phạm vì lời thông Đức, dạ sắt vàng thêm thử lại thêm bền;
Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm sét chẳng kinh cùng chẳng hãi (22).

Gương vĩ nhân treo những bao giờ;
Hồn cố quốc mới về năm ngoái (23).

Trước mặt nào ai hớn hở, thấy ngựa xe luống ngẩn ngơ chiều;
Bên tai những tiếng kêu van, nghe sưu thuế càng ngao ngán nỗi.

Dưới miệng cọp gửi đàn con đỏ, phúc trùng lai thêm bận dạ tha hương (24);

Trên quyền người đeo giống da vàng, lòng cảm tử quyết lùa quân hậu đội (25).

Ước những chuông đều trống nhịp, khắp ba kì cho vang tiếng reo hò;
Mới là anh trước em sau, dắt một lũ để đồng bào gắng gỏi.

Khéo vô tình trời chẳng chiều người;
Nên bất hạnh mừng mà hóa tủi.

Tiệc hoan nghênh mới đó, não nùng rượu chửa phai mùi;
Hội truy điệu gần đây, thấp thoáng hương đà bén khói.

Anh em ta:
Đất rẽ đôi đường,
Tình chung một khối.

Gánh tồn vong ai cũng nặng nề;
Nghĩa chung thủy lòng càng bối rối.

Sóng gió một con thuyền chung chạ, mái chèo đương lúc cheo leo;
Mây mù muôn dặm đất xa khơi, dấu ngựa nhờ ai rong ruổi.

Ngại ngùng thay người ngọc mù sa!
Ngao ngắn nhẽ giọt châu mưa xối!

Thương ôi!
Bể bạc còn trơ;
Trời xanh khó hỏi.

Nghìn vàng khôn chuộc được anh hào;
Tấc dạ dám thề cùng sông núi.

Trước đã giỏi mà sau thêm giỏi nữa, dấu cộng hòa xin rán sức theo đòi;
Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang độc lập quyết ra tay xin với.

Lời này ông xét cho chăng?
Lòng ấy đã trời soi rọi.

Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu (1926)

Chú thích trong bài văn tế Phan Châu Trinh

  1. Tuồng thiên diễn: sự tiến hóa trong trời đất diễn ra như một tấn tuồng. Đây là lấy chữ thiên diễn trong sách. Thiên diễn luận của Hóc-xlây, một cuấn sách được các chí sĩ bấy giờ ham chuộng. Mưa Âu gió Mỹ: từ ngữ thường dùng khoảng đầu thế kỷ XX, lúc các nhà chí sĩ của ta tiếp xúc với tư tưởng cách mạng tư sản châu Âu và thấy được sức mạnh của các nước Âu – Mỹ. Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ: ý nói các nước đế quốc Âu – Mỹ chủ động làm cho thế giới biến chuyển.
  2. Địa linh: do chữ “Địa linh nhân kiệt”. Theo thuật phong thủy xưa thì chỗ đất linh thiêng tất sinh người tài giỏi.
  3. Hậu bối: những người sau.
  4. Tinh thần di tạo hóa: tinh thần gửi (để lại) tạo hóa, nên chết chũng như sống, vẫn còn.
  5. Tú dục Nam châu: vẻ đẹp tốt hun đúc đất Quảng Nam.
  6. Linh chung Đà hải: Khí thiêng chung đúc bể Đà (bể ở Đà Nẵng). Cả chú thích (5) và (6) ý nói núi sông Quảng Nam là nơi chung đúc khí thiêng và vẻ đẹp (để sinh ra người tài giỏi như ông).
  7. Thân phụ Phan Châu Trinh làm quan võ, nên lúc nhỏ, ông có nối nghiệp nhà theo học nghề võ.
  8. Tác thánh: học giỏi làm đến bậc thánh. Ý nói học theo đạo Nho.
  9. Tranh vanh: cao và dốc ngược. Khí vẫn tranh vanh: ý nói nói khí phách cao như núi.
  10. Mã Ni: viết tắt của từ Mã-chi-ni (Mazzini), tên một nhà ái quốc của Italia thế kỷ XIX. Trong bài tựa quyển “Phan Tây Hồ di thảo” của Phan Đức Kế, Phan Bội Châu có nhắc lời Phan Châu Trinh nói với ông lúc chia tay ở Nhật Bản: “Nay tôi về tôi làm Mã-chi-ni, còn bác ở ngoài làm Gia-lí-ba-đích (Garibaldi), chia ra hai đường mà cùng đi tới, chúng ta lấy cái chết mà thề cùng nhau có thủy có chung. Mã và Gia là hai người có công lớn trong việc thống nhất nước Italia hồi thế kỷ XIX.
  11. Lỗ Dịch: chỉ vua Louis XVI ở Pháp, bị cách mạng Pháp 1789 lật đổ và xử tử.
  12. Lư Thoa (phiên âm Hán Việt): tức Rousseau; Mạnh Đức (phiên âm Hán Việt): tức Montesquieu, phiên âm đầy đủ là Mạnh Đức Tư Cưu. Đây là hai nhà tư tưởng tiến bộ Pháp thế kỷ XVIII.
  13. Hoàng Tân (phiên âm Hán Việt): tức Yokohama, một hải cảng ở Nhật, nơi đầu tiên Phan Bội Châu đặt chân đến.
  14. Có bản chép: “Triệu người Việt với nghìn người Tây. E không đáng với tư tưởng Phan Châu Trinh”.
  15. Rắn rết: chỉ bè lũ tay sai của thực dân Pháp.
  16. Hùm beo: có ý chỉ thực dân Pháp. Cả chú thích (15) và (16) ám chỉ việc Phan Châu Trinh gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Paul Beau. Đó là văn cứu thời của một người yêu nước nói ra nhưng thực dân (hùm beo) và tay sai (rắn rết) lại gây oan để buộc tội.
  17. Năm 1908, ở Trung Kì có phong trào đòi miễn giảm sưu thuế, ở Hà Nội xảy ra vụ đầu độc binh lính Pháp. Nhân cớ đó, chính quyền Pháp đàn áp các nhà chí sĩ “yêu nước”, “thương dân”, ghép họ vào tội “bội quốc” và âm mưu làm loạn, rồi đày ra Côn Lôn. Phan Châu Trinh là một trong số những người ấy.
  18. Có bản viết:
    “Sương đơn gió kép, giữa hội mịt mù;
    Mưa dập sóng dồn, xót ông chìm nổi.”
  19. Thân, Dậu, Tuất: chỉ các năm 1908, 1909, 1910. Đây là thời gian Phan Châu Trinh ở Côn Lôn.
  20. Đặng, Hoàng, Ngô: tức chỉ Đặng Nguyên Cần, Huỳnh Thúc Kháng và Ngô Đức Kế. Cả ba người này cũng bị đày ra Côn Đảo lúc bấy giờ.
  21. Phan Châu Trinh nhờ được hội Nhân quyền can thiệp nên được tha, sau đó ông đi Pháp năm 1911.
  22. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Phan Châu Trinh bị nghi mưu thông với Đức nên bị bắt giam mấy tháng (1915). Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dụ cuộc đấu xảo thuộc địa. Ông viết bức thư kể 7 tội của Khải Định, gọi là Thư thất điều, bao gồm các tội sau:
    1. Tôn quân quyền.
    2. Thưởng phạt không công bình.
    3. Chuộng sự quỳ lạy.
    4. Xa xỉ vô đạo.
    5. Phục sức không đúng phép.
    6. Du hạnh vô độ.
    7. Việc Pháp du ám muội (đi Pháp với mục đích không chính đáng).
  23. Ý nói việc Phan Châu Trinh về nước năm 1925.
  24. Trùng lai: trở về quê hương. Cả câu có ý nói: Phan Châu Trinh muốn dựa vào Pháp (cọp) để làm lợi cho dân (con đó) nên nay được về nước là một điều hạnh phúc, nhưng ông còn bận lòng một chút đó là chưa về thăm được quê nhà, mà còn phải ở tha hương, tức là còn ở Nam Kì lúc bấy giờ.
  25. Lùa: thúc đẩy, hậu đội: hậu sinh. Cả câu có ý nói Phan Châu Trinh lấy dân quyền làm gốc để cứu vớt giống nòi, nên lòng hăng hái, chí cương quyết thúc đẩy (lùa) hậu sinh (hậu đội) lên đường tranh đấu.
Các tác phẩm của Phan Bội Châu
Các tác phẩm của Phan Bội Châu

Các tác phẩm của Phan Bội Châu

Phan Bội Châu (1867 – 1940), biệt hiệu là Sào Nam, quê ở Nam Đàn, Nghệ An trong một gia đình mấy đời đều là nhà nho nghèo.

Ông là một trong những nhà chí sĩ yêu nước lỗi lạc, từng bí mật ra nước ngoài hoạt động ở Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc. Ông còn nổi tiếng với phong trào Đông Du đưa các thanh thiếu niên Việt Nam sang học ở Nhật Bản để chuẩn bị lực lượng chống Pháp.

Các tác phẩm của Phan Bội Châu đều là những lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước và là vũ khí tuyên truyền vận động cách mạng đầy nhiệt tình. Các tác phẩm chính của ông gồm có “Hải ngoại huyết thư” (Bức thư viết bằng máu từ nước ngoài gửi về, 1906), “Trùng Quang tâm sử” (Lịch sử những tấm lòng yêu nước tại trại Trùng Quang), “Ngục trung thư” (Sách trong tù, 1913), “Phan Bội Châu niên biểu” (Cuộc đời Phan Bội Châu ghi theo năm tháng, 1940).

Bên cạnh bài văn tế Phan Châu Trinh được Thế giới văn học giới thiệu ở trên, các bạn đừng bỏ lỡ các tác phẩm của Phan Bội Châu, để thấy được ngoài hoạt động chính trị, ông còn có thiên phú văn thơ điêu luyện.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*